Văn Học Lớp 9

Bài văn Phân tích vẻ đẹp của ngôn ngữ nghệ thuật trong bài Tự tình II

Có phải bạn đang tìm kiếm chủ đề về => Bài văn Phân tích vẻ đẹp của ngôn ngữ nghệ thuật trong bài Tự tình II phải không? Nếu đúng như vậy thì mời bạn xem nó ngay tại đây. Xem thêm NHỮNG BÀI VĂN MẪU HAY khác tại đây => Văn Mẫu

Được mệnh danh là bà chúa thơ Nôm, Hồ Xuân Hương luôn để lại ấn tượng trong lòng người đọc với những bài thơ có ngôn từ độc đáo. Một trong số đó phải kể đến tập thơ “Tự tình II”. Mời các bạn cùng tham khảo bài Phân tích vẻ đẹp ngôn ngữ nghệ thuật trong bài thơ Tự tình II dưới đây để thấy được những nét độc đáo trong phong cách thơ Hồ Xuân Hương.

Chủ đề: Phân tích vẻ đẹp của ngôn ngữ nghệ thuật trong bài thơ Tự tình II

Phân tích vẻ đẹp của ngôn ngữ nghệ thuật trong bài thơ Tự tình II

I. Dàn ý Phân tích vẻ đẹp của ngôn ngữ nghệ thuật trong Tự tình II (Chuẩn)

1. Mở bài:

– Giới thiệu tác giả Hồ Xuân Hương và tác phẩm Tự Tình II.
– Giới thiệu vẻ đẹp của ngôn ngữ nghệ thuật trong Tự tình II.

2. Thân bài:

Một. Vài nét về tác giả và tác phẩm:
– Hồ Xuân Hương được mệnh danh là “Bà chúa thơ Nôm”. Thơ của bà là tiếng nói đòi quyền hạnh phúc của người phụ nữ trong xã hội phong kiến ​​xưa.
– Bài thơ Tự tình II với chủ đề viết về người phụ nữ, là một trong ba bài thơ cùng tên của Hồ Xuân Hương, theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật.

b. Nhà thơ đã sử dụng những từ ngữ gợi hình và những thủ pháp nghệ thuật tương phản để thể hiện nỗi đau, nỗi cô đơn của nhân vật trữ tình:
– Cảnh khuya được gợi lên bằng âm thanh khẩn trương của tiếng trống “reo” “vọng lại” từ xa khiến lòng người càng thêm buồn, cô đơn.
– Đối lập với cảnh khuya vội vã, đó là “khuôn mặt ửng đỏ” gợi lên sự nhỏ nhen, rẻ rúng của thân phận nhân vật trữ tình.

C. Nghệ thuật sử dụng các cặp đối lập, đối lập của tác giả để diễn tả nỗi cô đơn, tuyệt vọng trong mối lương duyên dang dở:
– Nhà thơ mượn rượu để giải sầu, nhưng lại “giải sầu” khi say nên càng cảm thấy đau đớn cho thân phận mình.
– Tuổi xuân của người phụ nữ đã dần qua đi, nhưng mối lương duyên vẫn còn dang dở, vẫn “chưa dứt”.

d. Nghệ thuật dùng từ in đậm, đảo ngữ để thể hiện nỗi uất hận về thân phận tâm trạng của nhân vật trữ tình:
– Bản chất kì lạ, phi thường với những động từ mạnh “xiên”, “đập” phù hợp với tính cách mạnh mẽ của Hồ Xuân Hương, muốn tìm mọi cách để vượt lên số phận.
– Phép đối trong hai câu thể hiện nỗi uất hận của thân phận rêu phong, cũng là nỗi uất hận của chính tác giả.

e. Nghệ thuật diễn tiến, điệp ngữ thể hiện tâm trạng chán chường và khát khao hạnh phúc cháy bỏng của tác giả:
– Các từ “xuân”, “lại” cho thấy xuân về đồng nghĩa với xuân ra đi.
– Nhà thơ sử dụng nghệ thuật tăng tiến để miêu tả một tình yêu mong manh, thoáng qua.

f. Đánh giá:
– Đoạn thơ là tiếng nói xót xa, uất hận của nhà thơ trước số phận bất hạnh, muốn vươn lên nhưng vẫn rơi vào bi kịch của xã hội.
– Đoạn thơ tuy ngắn nhưng đã thể hiện rõ tài năng của tác giả với ngôn ngữ rất đời thường, phong phú và hàng loạt các biện pháp nghệ thuật như tương phản, đảo ngữ, …

3. Kết luận:
– Nêu được vẻ đẹp của ngôn ngữ nghệ thuật trong bài “Tự tình II”.

II. Bài văn mẫu Phân tích vẻ đẹp của ngôn ngữ nghệ thuật trong Tự tình II (Chuẩn)

Điều đọng lại với mỗi nhà văn là tiếng nói của chính họ. Mỗi nhà văn, nhà thơ được ví như một bông hoa trong rừng văn vật đại ngàn, nhưng mỗi loài hoa lại mang một hương thơm đặc trưng riêng. Với Hồ Xuân Hương cũng vậy, bà là một trong những nhà thơ tiêu biểu của nền văn học trung đại Việt Nam với phong cách thơ mới lạ, độc đáo. Cô đã tạo nên vẻ đẹp của ngôn ngữ nghệ thuật trong bài thơ “Tự tình II” bằng cách Việt hóa câu thơ bảy chữ “Đường luật”.

Hồ Xuân Hương là một nhà thơ tài hoa nhưng cuộc đời tình duyên lại gặp nhiều trắc trở. Với tính hiếu học và sự thông minh vốn có, bà đã nuôi dưỡng một niềm đam mê thơ ca bất diệt và được mọi người đặt cho biệt danh là “Bà chúa thơ Nôm”. Thơ của bà là tiếng nói đòi quyền được hưởng hạnh phúc của người phụ nữ trong xã hội phong kiến ​​xưa. Bài thơ “Tự tình II” là một trong ba bài thơ trong chùm thơ “Tự tình” của Hồ Xuân Hương. Bằng những ngôn từ hết sức giản dị, đời thường, “Bà chúa thơ Nôm” đã Việt hóa bài thơ Đường luật bảy chữ với bố cục: đề, thực, luận, kết thúc là “Tự tình II”.

Nhà thơ đã sử dụng những từ ngữ gợi hình và những thủ pháp nghệ thuật tương phản để thể hiện nỗi đau, nỗi cô đơn của nhân vật trữ tình:

“Đêm khuya vang lên tiếng trống canh,
Mặt non hồng nước non ”.

Ban đêm là lúc con người ta được sống với cảm xúc của mình nhiều nhất. “Cảnh khuya” được gợi lên bằng âm thanh khẩn trương của “tiếng trống canh” “vọng lại” từ xa khiến lòng người càng thêm buồn, cô đơn. Tiếng trống dồn dập dù ở rất xa nhưng vẫn đủ nghe, nó báo hiệu thời gian trôi nhanh. Đối lập với sự gấp gáp, vội vã của màn đêm là “khuôn mặt ửng đỏ” gợi lên sự nhỏ nhen, rẻ rúng của thân phận nhân vật trữ tình. Nhà thơ dùng từ “cái” thường dùng để gọi sự vật để chỉ “mặt đỏ” một mình trong đêm thanh vắng, “mặt đỏ” ấy muốn bày tỏ nỗi lòng của mình nhưng không biết thổ lộ lòng mình. với ai. Vượt lên số phận, đó là bản lĩnh của Hồ Xuân Hương, nhà thơ đã tự giễu mình và thể hiện sự thách thức của cá nhân mình đối với số phận qua từ “trơ” và “nước non”. Hai câu thơ trên đã dẫn dắt người đọc đi từ không gian này sang thời gian khác để mở ra thế giới nội tâm bướng bỉnh của người phụ nữ.

Ở hai câu thơ tiếp theo, nhà thơ đã sử dụng các cặp đối lập, đối lập để nói lên tâm trạng cô đơn, tuyệt vọng trong mối lương duyên dang dở:

“Chén hương đưa cơn say tỉnh lại,
Trăng khuyết chưa tròn ”.

Nhà thơ mượn rượu để giải sầu, nhưng “thổn thức” khi say lại càng cảm thấy đau đớn cho thân phận mình. Cô cứ nghĩ uống là say cho quên đi những nỗi buồn, nhưng càng uống càng tỉnh, cô càng nhận ra số phận của mình. Cô dùng từ “hương thơm” để chỉ một thứ men nồng nặc nhưng rất nhẹ nhàng khiến con người ta dễ rơi vào trạng thái nửa tỉnh, nửa mơ trong vòng luẩn quẩn của tạo hóa. Cô mang “gương mặt đỏ bừng” của chính mình ra làm đồ uống khi uống rượu và phát hiện ra rằng cuộc sống của mình chẳng trọn vẹn chút nào. Nhà thơ tìm đến trăng để bầu bạn, nhưng “trăng khuya” nghĩa là trăng sắp tàn mà vẫn “chưa tàn” để nói lên mối lương duyên còn dang dở dù tuổi thanh xuân của người phụ nữ đã dần trôi qua. . Hai vế đối của bài thơ đối lập ý rằng người “lại say”, trăng “chưa đầy” cho thấy lòng người muốn thay đổi, nhưng tình vẫn đứng yên không chịu thay đổi khiến nhân vật trữ tình dần dần rơi vào tình trạng hư hỏng. tận cùng của sự bế tắc, tuyệt vọng.

Dưới ngòi bút của Hồ Xuân Hương, thiên nhiên nhỏ bé, yếu ớt nhưng lại có sức mạnh phi thường “xiên đất”, “đập tan mây khói”. Nhà thơ đã sử dụng những động từ mạnh “xiên”, “đập”, nghịch để miêu tả thiên nhiên, đồng thời cũng thể hiện sự căm phẫn, phản kháng trước số phận của mình:

“Bị xiên trên mặt đất, rêu thành từng đám,
Đập chân mây, đá vài chân ”.

Dưới ngòi bút của Hồ Xuân Hương, thiên nhiên trở nên đẹp lạ thường. Khác với dáng vẻ cam chịu của người phụ nữ thời trung đại, hai động từ mạnh “xiên”, “đập” đã thể hiện được sự bướng bỉnh, ương ngạnh của nữ sĩ. Cô muốn tìm cách vượt lên số phận của mình. Cô không chấp nhận số phận của mình, mà luôn muốn vẽ trời, vẽ đất để oán hận, phản kháng. Rêu phải khỏe, cứng rắn để “xiên ngang mặt đất”, đá phải sắc như gai mới “chọc thủng mây”. Sự đảo lộn trong hai bài văn thể hiện sự phẫn uất trước thân phận rêu phong và đây cũng là nỗi oan ức của tác giả. Hai câu thơ như tràn đầy sức sống bởi dù trong những hoàn cảnh éo le nhất, Hồ Xuân Hương vẫn luôn ấp ủ một khát vọng sống, hạnh phúc.

“Em không đợi anh không đợi / Mang xuân chi mang thêm nỗi buồn” (Chế Lan Viên). Mỗi độ xuân về, con người ta lại có thêm nỗi buồn về tuổi tác. Tuổi thanh xuân của người phụ nữ có nhưng đến bây giờ cũng đã dần đi hết tuổi thanh xuân và hạnh phúc vẫn chưa mỉm cười với họ:

“Mệt mỏi hết xuân lại xuân,
Một mảnh tình chung em bé bỏng! ”

Nhà thơ sử dụng nghệ thuật diễn tiến, phúng dụ để nói lên nỗi chán chường và khát khao hạnh phúc cháy bỏng của chính mình. Các từ “xuân”, “lại” cho thấy sự trở lại của mùa xuân đồng nghĩa với sự ra đi của tuổi trẻ. “Xuân” đầu tiên là mùa xuân của thiên nhiên, mùa của sự khởi đầu một năm mới, đỏ rực, may mắn mà bất cứ ai cũng mong chờ. Từ “thanh xuân” thứ hai tác giả muốn nói đến tuổi trẻ, thanh xuân và đây cũng là quãng thời gian đẹp đẽ nhất của người con gái. Nhà thơ không ngờ mùa xuân đến mà thời gian vẫn vô tình trôi, không thể “tắt nắng”, “buộc gió” như Xuân Diệu. Không hạnh phúc khi phải đôi lần làm quan, tiếng nói của Hồ Xuân Hương còn là nỗi lòng của người phụ nữ trong xã hội cũ khi hạnh phúc luôn là chiếc chăn quá hẹp đối với họ. Nhà thơ sử dụng nghệ thuật tăng tiến để miêu tả một tình yêu mong manh, thoáng qua. “Mảnh tình” vốn đã ít ỏi nay lại phải san sẻ thành “đứa con thơ” thì càng đáng thương và đáng thương hơn cho số phận người phụ nữ:

“Kẻ đắp chăn, kẻ lạnh lùng
Chém cha kiếp lấy chồng chung “

(Hồ xuân hương)

“Tự tình II” là tiếng nói đau xót, phẫn nộ của Hồ Xuân Hương trước số phận bất hạnh, cố gắng dũng cảm vươn lên nhưng vẫn rơi vào bi kịch của xã hội. Trong xã hội phong kiến, người phụ nữ phải chịu nhiều bất công với tư tưởng “trọng nam khinh nữ” khiến họ rơi vào bi kịch của chính cuộc đời mình. Đoạn thơ tuy ngắn nhưng đã thể hiện rõ tài năng của tác giả qua tài sử dụng từ ngữ giản dị mà sâu sắc cùng hàng loạt biện pháp nghệ thuật như đối, đảo, điệp để diễn tả số phận đáng buồn. của người phụ nữ trong xã hội phong kiến.

Ngôn ngữ nghệ thuật trong “Tự tình II” của “Bà chúa thơ Nôm” đã tạo được dấu ấn riêng trong kho tàng thơ ca trung đại Việt Nam. Với ngôn từ rất gần gũi với người đọc và cách sử dụng biện pháp tu từ khéo léo, “Tự tình II” của Hồ Xuân Hương đã nói lên số phận bất hạnh của một người phụ nữ. Bài thơ còn là tiếng nói tiếng lòng thủy chung của những người phụ nữ bị áp bức, đối xử bất công trong xã hội đầy bất công nhưng trong họ vẫn luôn cháy bỏng khát vọng hạnh phúc.

————–KẾT THÚC—————

https://thuthuat.taimienphi.vn/phan-tich-ve-dep-cua-ngon-ngu-nghe-thuat-trong-bai-tu-tinh-ii-66099n.aspx
Để hiểu rõ hơn về phong cách ngôn ngữ nghệ thuật của Hồ Xuân Hương, ngoài bài Phân tích vẻ đẹp của ngôn ngữ nghệ thuật trong bài Tự tình II trên đây, các em có thể tham khảo thêm các bài soạn sau: Phân tích diễn biến tâm trạng của nhân vật trữ tình trong bài thơ Tự tình II của Hồ Xuân HươngPhân tích Tự tình của Hồ Xuân Hương II, Phân tích 2 câu kết bài Tự tình 2Suy nghĩ về ước mơ và hạnh phúc của người phụ nữ Việt Nam qua bài Tự tình 2.

Tác giả: Nguyễn Cảnh Nam
(4.03 đánh giá)
đánh giá của bạn?

Các từ khóa liên quan:

Nhận xét về vẻ đẹp của người phụ nữ đẹp trong bài thơ Tự tình II

Xem xét và nghe lại những bài hát hay nhất trong bài Tự tình, những bài hát nổi tiếng nhất của Hồ Xuân Hương trong cuốn Tự tình 2,


Thông tin cần xem thêm:

Hình Ảnh về Bài văn Phân tích vẻ đẹp của ngôn ngữ nghệ thuật trong bài Tự tình II

Video về Bài văn Phân tích vẻ đẹp của ngôn ngữ nghệ thuật trong bài Tự tình II

Wiki về Bài văn Phân tích vẻ đẹp của ngôn ngữ nghệ thuật trong bài Tự tình II

Bài văn Phân tích vẻ đẹp của ngôn ngữ nghệ thuật trong bài Tự tình II

#Bài #văn #Phân #tích #vẻ #đẹp #của #ngôn #ngữ #nghệ #thuật #trong #bài #Tự #tình

[rule_3_plain]

#Bài #văn #Phân #tích #vẻ #đẹp #của #ngôn #ngữ #nghệ #thuật #trong #bài #Tự #tình

[rule_1_plain]

#Bài #văn #Phân #tích #vẻ #đẹp #của #ngôn #ngữ #nghệ #thuật #trong #bài #Tự #tình

[rule_2_plain]

#Bài #văn #Phân #tích #vẻ #đẹp #của #ngôn #ngữ #nghệ #thuật #trong #bài #Tự #tình

[rule_2_plain]

#Bài #văn #Phân #tích #vẻ #đẹp #của #ngôn #ngữ #nghệ #thuật #trong #bài #Tự #tình

[rule_3_plain]

#Bài #văn #Phân #tích #vẻ #đẹp #của #ngôn #ngữ #nghệ #thuật #trong #bài #Tự #tình

[rule_1_plain]

Bạn thấy bài viết Bài văn Phân tích vẻ đẹp của ngôn ngữ nghệ thuật trong bài Tự tình II có giải quyết đươc vấn đề bạn tìm hiểu không?, nếu  không hãy comment góp ý thêm về Bài văn Phân tích vẻ đẹp của ngôn ngữ nghệ thuật trong bài Tự tình II bên dưới để https://hubm.edu.vn/ có thể chỉnh sửa & cải thiện nội dung tốt hơn cho độc giả nhé! Cám ơn bạn đã ghé thăm Website https://hubm.edu.vn/

Nguồn: https://hubm.edu.vn/

#Bài #văn #Phân #tích #vẻ #đẹp #của #ngôn #ngữ #nghệ #thuật #trong #bài #Tự #tình

ĐH KD & CN Hà Nội

Trường Đại học Quản lý và Kinh doanh Hà nội là một trường dân lập, thuộc Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam, được phép thành lập theo Quyết định số 405/TTg, ngày 15/6/1996 của Thủ tướng Chính phủ. Trường chịu sự quản lý Nhà nước của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Hệ thống văn bằng của Trường nằm trong hệ thống văn bằng quốc gia. Ngày 15/09/2006 Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định số 750/QĐ-TTg về việc đổi tên trường thành Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button