Tổng Hợp

Cửa sổ Johari và ứng dụng trong giao tiếp

Tắt quảng cáo [X]

(Cập nhật lần cuối Ngày: 22/01/2022 bởi Lytuong.net)

Cửa sổ Johari không phải là một mô hình giao tiếp. Trên thực tế, đây là một kỹ thuật do Joseph Luft và Harrington Ingham phát minh vào năm 1955 tại Mỹ nhằm giúp chúng ta hiểu rõ hơn về mối quan hệ của mình với người khác trong quá trình giao tiếp.

Hình 1. Mỗi người đều có hai phần biết (+) và không biết (-)

Xây dựng cửa sổ xuất phát từ quan điểm cho rằng trong mỗi chúng ta đều có hai phần: phần biết (+) và phần không biết (-). Điều này đúng cho cả chúng tôi (a) và đối tác truyền thông của chúng tôi (b). Khi hai người giao tiếp, các vùng đã biết và chưa biết này giao nhau (c) (xem hình 1) và tạo thành các cửa sổ (được hiển thị trong không gian ba chiều như trong hình 2).

Giải thích cửa sổ Johari trong không gian ba chiều
Hình 2: Giải thích cửa sổ Johari trong không gian ba chiều

Mối quan hệ này được sơ đồ hóa như trong Hình 3. Các tế bào tâm lý trong quá trình tương tác với người khác có ý nghĩa như sau:

Hình 3: Diễn giải cửa sổ Jahari bằng sơ đồ
Hình 3: Diễn giải cửa sổ Jahari bằng sơ đồ

Ô thứ nhất: Phần công khai (ô “Mở”). Phần này bao gồm những thông tin mà bạn và người khác có thể dễ dàng nhận ra nhau khi tiếp cận lần đầu như màu tóc, dáng người, trang phục, giới tính, v.v. Đối với những lần tiếp cận sau, phần này bao gồm những thông tin mà chúng ta và đối tác giao tiếp đã biết về nhau qua tiếp xúc trước đó. Nói tóm lại, đó là chiếc ô mà chúng ta biết về chúng ta và những người khác biết về chúng ta.

Hộp thứ hai: Phần mù (“Hộp mù”). Phần này bao gồm những sự thật mà người khác biết về bạn nhưng bản thân bạn thì không, như thói quen (nói nhanh, nói nhiều…), tật (ngước lên nhìn xuống khi giao tiếp…), tính khí thất thường… Chúng ta chỉ có thể khám phá những sự thật này về bản thân khi chúng tôi được người khác thông báo và chúng tôi chỉ nhận được những phản hồi này trong giao tiếp và trong hầu hết các trường hợp. là khi có sự tương tác trong các hoạt động trong nhóm nhỏ. Đây là chiếc ô tôi không biết về tôi, nhưng những người khác biết về

Ô thứ ba: Che giấu (ô “Ẩn”). Đó là những sự thật mà chúng ta biết rõ nhưng vẫn giấu kín không muốn tiết lộ cho ai và tất nhiên người khác cũng không biết như kinh nghiệm cá nhân, quan điểm, niềm tin, giá trị, tâm sự riêng tư… Vấn đề này chỉ dần dần mới lộ ra cho người khác biết. khi mối quan hệ giữa ta và người kia đã có cơ sở tin tưởng lẫn nhau. Đây là chiếc ô tôi biết về tôi và những người khác không biết về

Hộp thứ tư: Điều chưa biết (hộp “Đóng”) Điều chưa biết bao gồm những sự thật mà cả bạn và người khác đều chưa biết và chỉ được khám phá khi bạn có cơ hội giao tiếp nhiều (đặc biệt là trong các nhóm nhỏ) và có cơ hội bày tỏ. những khả năng của chúng ta như khả năng, tiềm năng, năng khiếu, sự sáng tạo khi chúng ta sống trong một môi trường tạo cho chúng ta nhiều cơ hội và điều kiện để phát huy. Đây là nơi tôi không biết về tôi và người khác cũng không biết về tôi.

Theo Sigmund Freud, phần này thuộc về tiềm thức hay vô thức và được phát hiện nhanh hay chậm tùy thuộc vào môi trường sống (nhóm, nơi học tập, nơi làm việc) có tạo điều kiện thuận lợi nhiều hay ít cho chúng ta hòa nhập. .

Nhận xét

Phản hồi là xu hướng mà những người khác sẵn sàng chia sẻ thông tin với chúng ta. Đó là thiện chí cởi mở của họ đối với tôi. Trong giao tiếp, nếu chúng ta thường cắt ngang và lấn át ý kiến ​​phản hồi của người khác bằng cách tranh luận về cảm nhận và mức độ hiểu của họ, thì chúng ta sẽ không nhận được phản hồi. Theo nhà tâm lý học Haim Ginott (Haim G. Ginott, gốc Đức (1922–1973), giáo viên, nhà tâm lý học trẻ em, nhà trị liệu tâm lý và một nhà giáo dục cha mẹ), cha mẹ mọi người phải được phép có bất kỳ cảm xúc nào họ muốn, cảm xúc phải được bày tỏ và thừa nhận thì chỉ có thể hạn chế được hành vi.

Không có phản hồi từ người khác, phần M trở nên lớn hơn và cuối cùng phá hủy khả năng giao tiếp hiệu quả của chúng ta. Vì vậy, cần tôn trọng và khuyến khích người khác chia sẻ cảm xúc, nhận thức với mình.

tự tiết lộ

Bộc lộ bản thân là xu hướng muốn chia sẻ với người khác của chúng ta. Tiết lộ đầu tiên không phải là những gì chúng ta nói về bản thân mà là về hành vi của chúng ta. Tiết lộ chỉ phù hợp khi nó liên quan đến hoạt động của chúng tôi bởi vì nếu mọi thứ được tiết lộ thì sẽ không có hứng thú giao tiếp. Tiết lộ có thể phù hợp trong một bối cảnh, nhưng không phù hợp trong một bối cảnh khác.

Xem thêm thông tin chi tiết về Cửa sổ Johari và ứng dụng trong giao tiếp

Hình Ảnh về Cửa sổ Johari và ứng dụng trong giao tiếp

Video về Cửa sổ Johari và ứng dụng trong giao tiếp

Wiki về Cửa sổ Johari và ứng dụng trong giao tiếp

Cửa sổ Johari và ứng dụng trong giao tiếp

Cửa sổ Johari và ứng dụng trong giao tiếp -

Tắt quảng cáo [X]

(Cập nhật lần cuối Ngày: 22/01/2022 bởi Lytuong.net)

Cửa sổ Johari không phải là một mô hình giao tiếp. Trên thực tế, đây là một kỹ thuật do Joseph Luft và Harrington Ingham phát minh vào năm 1955 tại Mỹ nhằm giúp chúng ta hiểu rõ hơn về mối quan hệ của mình với người khác trong quá trình giao tiếp.

Hình 1. Mỗi người đều có hai phần biết (+) và không biết (-)

Xây dựng cửa sổ xuất phát từ quan điểm cho rằng trong mỗi chúng ta đều có hai phần: phần biết (+) và phần không biết (-). Điều này đúng cho cả chúng tôi (a) và đối tác truyền thông của chúng tôi (b). Khi hai người giao tiếp, các vùng đã biết và chưa biết này giao nhau (c) (xem hình 1) và tạo thành các cửa sổ (được hiển thị trong không gian ba chiều như trong hình 2).

Giải thích cửa sổ Johari trong không gian ba chiều
Hình 2: Giải thích cửa sổ Johari trong không gian ba chiều

Mối quan hệ này được sơ đồ hóa như trong Hình 3. Các tế bào tâm lý trong quá trình tương tác với người khác có ý nghĩa như sau:

Hình 3: Diễn giải cửa sổ Jahari bằng sơ đồ
Hình 3: Diễn giải cửa sổ Jahari bằng sơ đồ

Ô thứ nhất: Phần công khai (ô "Mở"). Phần này bao gồm những thông tin mà bạn và người khác có thể dễ dàng nhận ra nhau khi tiếp cận lần đầu như màu tóc, dáng người, trang phục, giới tính, v.v. Đối với những lần tiếp cận sau, phần này bao gồm những thông tin mà chúng ta và đối tác giao tiếp đã biết về nhau qua tiếp xúc trước đó. Nói tóm lại, đó là chiếc ô mà chúng ta biết về chúng ta và những người khác biết về chúng ta.

Hộp thứ hai: Phần mù (“Hộp mù”). Phần này bao gồm những sự thật mà người khác biết về bạn nhưng bản thân bạn thì không, như thói quen (nói nhanh, nói nhiều...), tật (ngước lên nhìn xuống khi giao tiếp...), tính khí thất thường... Chúng ta chỉ có thể khám phá những sự thật này về bản thân khi chúng tôi được người khác thông báo và chúng tôi chỉ nhận được những phản hồi này trong giao tiếp và trong hầu hết các trường hợp. là khi có sự tương tác trong các hoạt động trong nhóm nhỏ. Đây là chiếc ô tôi không biết về tôi, nhưng những người khác biết về

Ô thứ ba: Che giấu (ô “Ẩn”). Đó là những sự thật mà chúng ta biết rõ nhưng vẫn giấu kín không muốn tiết lộ cho ai và tất nhiên người khác cũng không biết như kinh nghiệm cá nhân, quan điểm, niềm tin, giá trị, tâm sự riêng tư… Vấn đề này chỉ dần dần mới lộ ra cho người khác biết. khi mối quan hệ giữa ta và người kia đã có cơ sở tin tưởng lẫn nhau. Đây là chiếc ô tôi biết về tôi và những người khác không biết về

Hộp thứ tư: Điều chưa biết (hộp “Đóng”) Điều chưa biết bao gồm những sự thật mà cả bạn và người khác đều chưa biết và chỉ được khám phá khi bạn có cơ hội giao tiếp nhiều (đặc biệt là trong các nhóm nhỏ) và có cơ hội bày tỏ. những khả năng của chúng ta như khả năng, tiềm năng, năng khiếu, sự sáng tạo khi chúng ta sống trong một môi trường tạo cho chúng ta nhiều cơ hội và điều kiện để phát huy. Đây là nơi tôi không biết về tôi và người khác cũng không biết về tôi.

Theo Sigmund Freud, phần này thuộc về tiềm thức hay vô thức và được phát hiện nhanh hay chậm tùy thuộc vào môi trường sống (nhóm, nơi học tập, nơi làm việc) có tạo điều kiện thuận lợi nhiều hay ít cho chúng ta hòa nhập. .

Nhận xét

Phản hồi là xu hướng mà những người khác sẵn sàng chia sẻ thông tin với chúng ta. Đó là thiện chí cởi mở của họ đối với tôi. Trong giao tiếp, nếu chúng ta thường cắt ngang và lấn át ý kiến ​​phản hồi của người khác bằng cách tranh luận về cảm nhận và mức độ hiểu của họ, thì chúng ta sẽ không nhận được phản hồi. Theo nhà tâm lý học Haim Ginott (Haim G. Ginott, gốc Đức (1922–1973), giáo viên, nhà tâm lý học trẻ em, nhà trị liệu tâm lý và một nhà giáo dục cha mẹ), cha mẹ mọi người phải được phép có bất kỳ cảm xúc nào họ muốn, cảm xúc phải được bày tỏ và thừa nhận thì chỉ có thể hạn chế được hành vi.

Không có phản hồi từ người khác, phần M trở nên lớn hơn và cuối cùng phá hủy khả năng giao tiếp hiệu quả của chúng ta. Vì vậy, cần tôn trọng và khuyến khích người khác chia sẻ cảm xúc, nhận thức với mình.

tự tiết lộ

Bộc lộ bản thân là xu hướng muốn chia sẻ với người khác của chúng ta. Tiết lộ đầu tiên không phải là những gì chúng ta nói về bản thân mà là về hành vi của chúng ta. Tiết lộ chỉ phù hợp khi nó liên quan đến hoạt động của chúng tôi bởi vì nếu mọi thứ được tiết lộ thì sẽ không có hứng thú giao tiếp. Tiết lộ có thể phù hợp trong một bối cảnh, nhưng không phù hợp trong một bối cảnh khác.

[rule_{ruleNumber}]

'; } else { content.style.display = "none"; hide.innerHTML = 'Xem Quảng Cáo'; } }

Tắt quảng cáo [X]

(Cập nhật lần cuối Ngày: 22/01/2022 bởi Lytuong.net)

Cửa sổ Johari không phải là một mô hình giao tiếp. Trên thực tế, đây là một kỹ thuật do Joseph Luft và Harrington Ingham phát minh vào năm 1955 tại Mỹ nhằm giúp chúng ta hiểu rõ hơn về mối quan hệ của mình với người khác trong quá trình giao tiếp.

Hình 1. Mỗi người đều có hai phần biết (+) và không biết (-)

Xây dựng cửa sổ xuất phát từ quan điểm cho rằng trong mỗi chúng ta đều có hai phần: phần biết (+) và phần không biết (-). Điều này đúng cho cả chúng tôi (a) và đối tác truyền thông của chúng tôi (b). Khi hai người giao tiếp, các vùng đã biết và chưa biết này giao nhau (c) (xem hình 1) và tạo thành các cửa sổ (được hiển thị trong không gian ba chiều như trong hình 2).

Giải thích cửa sổ Johari trong không gian ba chiều
Hình 2: Giải thích cửa sổ Johari trong không gian ba chiều

Mối quan hệ này được sơ đồ hóa như trong Hình 3. Các tế bào tâm lý trong quá trình tương tác với người khác có ý nghĩa như sau:

Hình 3: Diễn giải cửa sổ Jahari bằng sơ đồ
Hình 3: Diễn giải cửa sổ Jahari bằng sơ đồ

Ô thứ nhất: Phần công khai (ô “Mở”). Phần này bao gồm những thông tin mà bạn và người khác có thể dễ dàng nhận ra nhau khi tiếp cận lần đầu như màu tóc, dáng người, trang phục, giới tính, v.v. Đối với những lần tiếp cận sau, phần này bao gồm những thông tin mà chúng ta và đối tác giao tiếp đã biết về nhau qua tiếp xúc trước đó. Nói tóm lại, đó là chiếc ô mà chúng ta biết về chúng ta và những người khác biết về chúng ta.

Hộp thứ hai: Phần mù (“Hộp mù”). Phần này bao gồm những sự thật mà người khác biết về bạn nhưng bản thân bạn thì không, như thói quen (nói nhanh, nói nhiều…), tật (ngước lên nhìn xuống khi giao tiếp…), tính khí thất thường… Chúng ta chỉ có thể khám phá những sự thật này về bản thân khi chúng tôi được người khác thông báo và chúng tôi chỉ nhận được những phản hồi này trong giao tiếp và trong hầu hết các trường hợp. là khi có sự tương tác trong các hoạt động trong nhóm nhỏ. Đây là chiếc ô tôi không biết về tôi, nhưng những người khác biết về

Ô thứ ba: Che giấu (ô “Ẩn”). Đó là những sự thật mà chúng ta biết rõ nhưng vẫn giấu kín không muốn tiết lộ cho ai và tất nhiên người khác cũng không biết như kinh nghiệm cá nhân, quan điểm, niềm tin, giá trị, tâm sự riêng tư… Vấn đề này chỉ dần dần mới lộ ra cho người khác biết. khi mối quan hệ giữa ta và người kia đã có cơ sở tin tưởng lẫn nhau. Đây là chiếc ô tôi biết về tôi và những người khác không biết về

Hộp thứ tư: Điều chưa biết (hộp “Đóng”) Điều chưa biết bao gồm những sự thật mà cả bạn và người khác đều chưa biết và chỉ được khám phá khi bạn có cơ hội giao tiếp nhiều (đặc biệt là trong các nhóm nhỏ) và có cơ hội bày tỏ. những khả năng của chúng ta như khả năng, tiềm năng, năng khiếu, sự sáng tạo khi chúng ta sống trong một môi trường tạo cho chúng ta nhiều cơ hội và điều kiện để phát huy. Đây là nơi tôi không biết về tôi và người khác cũng không biết về tôi.

Theo Sigmund Freud, phần này thuộc về tiềm thức hay vô thức và được phát hiện nhanh hay chậm tùy thuộc vào môi trường sống (nhóm, nơi học tập, nơi làm việc) có tạo điều kiện thuận lợi nhiều hay ít cho chúng ta hòa nhập. .

Nhận xét

Phản hồi là xu hướng mà những người khác sẵn sàng chia sẻ thông tin với chúng ta. Đó là thiện chí cởi mở của họ đối với tôi. Trong giao tiếp, nếu chúng ta thường cắt ngang và lấn át ý kiến ​​phản hồi của người khác bằng cách tranh luận về cảm nhận và mức độ hiểu của họ, thì chúng ta sẽ không nhận được phản hồi. Theo nhà tâm lý học Haim Ginott (Haim G. Ginott, gốc Đức (1922–1973), giáo viên, nhà tâm lý học trẻ em, nhà trị liệu tâm lý và một nhà giáo dục cha mẹ), cha mẹ mọi người phải được phép có bất kỳ cảm xúc nào họ muốn, cảm xúc phải được bày tỏ và thừa nhận thì chỉ có thể hạn chế được hành vi.

Không có phản hồi từ người khác, phần M trở nên lớn hơn và cuối cùng phá hủy khả năng giao tiếp hiệu quả của chúng ta. Vì vậy, cần tôn trọng và khuyến khích người khác chia sẻ cảm xúc, nhận thức với mình.

tự tiết lộ

Bộc lộ bản thân là xu hướng muốn chia sẻ với người khác của chúng ta. Tiết lộ đầu tiên không phải là những gì chúng ta nói về bản thân mà là về hành vi của chúng ta. Tiết lộ chỉ phù hợp khi nó liên quan đến hoạt động của chúng tôi bởi vì nếu mọi thứ được tiết lộ thì sẽ không có hứng thú giao tiếp. Tiết lộ có thể phù hợp trong một bối cảnh, nhưng không phù hợp trong một bối cảnh khác.

Bạn thấy bài viết Cửa sổ Johari và ứng dụng trong giao tiếp có giải quyết đươc vấn đề bạn tìm hiểu không?, nếu  không hãy comment góp ý thêm về Cửa sổ Johari và ứng dụng trong giao tiếp bên dưới để https://hubm.edu.vn/ có thể chỉnh sửa & cải thiện nội dung tốt hơn cho độc giả nhé! Cám ơn bạn đã ghé thăm Website ĐH KD & CN Hà Nội

Nguồn: ĐH KD & CN Hà Nội

#Cửa #sổ #Johari #và #ứng #dụng #trong #giao #tiếp

Xem thêm bài viết hay:  9 Cách rèn luyện khả năng tư duy

ĐH KD & CN Hà Nội

Trường Đại học Quản lý và Kinh doanh Hà nội là một trường dân lập, thuộc Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam, được phép thành lập theo Quyết định số 405/TTg, ngày 15/6/1996 của Thủ tướng Chính phủ. Trường chịu sự quản lý Nhà nước của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Hệ thống văn bằng của Trường nằm trong hệ thống văn bằng quốc gia. Ngày 15/09/2006 Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định số 750/QĐ-TTg về việc đổi tên trường thành Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button