Giáo Dục

Dàn ý thuyết minh về tác phẩm Tỏ lòng – Văn mẫu 10 hay nhất

Vui long tham khảo thông tin đo Lập dàn ý thuyết minh về tác phẩm Lời thú tội ngắn gọn, chi tiết, tốt nhất Trường ĐH KD & CN Hà Nội dưới đây để nắm được những ý chính cần xây dựng cho bài văn Tự sự về bài thơ Tỏ lòng, từ đó củng cố kiến ​​thức về tác phẩm, và viết được bài văn mẫu hay nhất cho bản thân. Hãy cùng tham khảo!

Lập dàn ý thuyết minh cho tác phẩm Lời thú tội – Văn mẫu số 1

I. Giới thiệu:

– Giới thiệu tác phẩm “Lời thú tội”

II. Nội dung bài đăng:

– Tác giả:


+ Phạm Ngũ Lão (1255-1320)

+ Sinh ra tại Hưng Yên

+ Là nhà chính trị lỗi lạc, nhà thơ lớn

– Công việc

+ Thời gian sáng tác không xác định

+ Bố cục: 2 phần

+ Chủ đề: khí phách và khát vọng chiến thắng

+ Nội dung:

Ca ngợi lòng dũng cảm của quân nhà Trần

Tham vọng đóng góp cho đất nước

+ Nghệ thuật:

Thể thơ tứ tuyệt.

Ngắn gọn, súc tích

III. Chấm dứt:

– Thái độ của bản thân

Lập dàn ý thuyết minh cho tác phẩm Lời thú tội – Văn mẫu số 2

I. Giới thiệu

– Giới thiệu tác giả Phạm Ngũ Lão: Là người văn võ song toàn, ông để lại cho đời hai tác phẩm Thuật hoài (Những tấm lòng dạy bảo) và Văn Thượng tướng quân, Hưng Đạo Đại Vương.

– Giới thiệu bài thơ Xưng:

+ Ra đời sau những chiến công hiển hách của quân dân thời Trần đánh đuổi quân Mông Cổ xâm lược.

+ Đoạn thơ làm sống dậy tinh thần của thời đại với niềm hân hoan, tự hào. Đồng thời, nó cũng thể hiện ý thức làm người và khát vọng lập công của người đàn ông.

II. Thân hình

1. Niềm tự hào Đông A qua hình tượng nam nhi và sức mạnh quân sự của nhà Trần.

một. Hình tượng nam trang thời Trần (câu 1)

– Tư thế “sóc phồng”: Múa giáo

+ Dịch nghĩa “cắp giáo” thể hiện sự rắn rỏi, kiên cường, oai phong, tư thế sẵn sàng chiến đấu của người lính.

+ Đoạn thơ dịch nghĩa là “múa giáo”: Thiên về lối diễn xướng phô trương, không thể hiện được nội lực nên không truyền tải được hết ý nghĩa của hình tượng thơ trong nguyên tác.

– Không gian “giang sơn”: Không chỉ có sông, có núi mà còn có núi, có nước, có đất nước.

→ Không gian vũ trụ rộng lớn để nam giới thể hiện tình cảm của mình

– Thời điểm “chớm thu”: vài mùa thu – vài năm

→ Thời gian kéo dài, thể hiện quá trình chịu đựng của một trận chiến lâu dài.

⇒ Chính thời gian và không gian đã nâng tầm vóc của người anh hùng vệ quốc, họ trở nên vĩ đại, sánh ngang với vũ trụ, đất trời, dù có sự tàn phá của thời gian, họ vẫn luôn bên nhau. nhiệm vụ.

b. Sức mạnh của quân đội thời Trần (Câu 2)

– “Tam quân”: Ba quân – quân trước, quân giữa, quân hậu. Hình ảnh thể hiện đội quân thời Trần.

– Sức mạnh của quân đội nhà Trần: Khí phách “ti hổ”, “hùng hổ”.

+ Nghĩa quân được so sánh với “mãnh hổ” – mãnh hổ: dã thú trong rừng sâu qua đó cụ thể hóa sức mạnh, bản lĩnh, tinh thần quật cường quật cường của quân đội nhà Trần.

+ Tác giả làm rõ sức mạnh ấy bằng hình ảnh “hồn làng”: Là biểu tượng của những người trẻ tuổi nhưng khí phách anh hùng.

→ Bằng những hình ảnh so sánh, phóng đại, tác giả đã thể hiện sự ngợi ca, tự hào về sức mạnh và khí phách của quân đội nhà Trần đập tan âm mưu xâm lược của kẻ thù.

♦ Tiểu kết:

– Nội dung:

+ Hai câu thơ đầu làm sống lại thời Trần với hào khí Đông A vang dội núi sông với hình ảnh những anh hùng vệ quốc với tư thế hiên ngang, kiêu hãnh sánh ngang với vũ trụ, quân khí oai hùng.

+ Ẩn sau đó là niềm tự hào của tác giả về sức mạnh và chiến công của dân tộc. Đó là một biểu hiện của lòng yêu nước

– Mỹ thuật:

+ văn gợi tả, không miêu tả, chi tiết.

+ Sử dụng các hình ảnh ước lệ: Khap kỳ thú, Ti hổ, ngưu thôn Tề.

+ Sử dụng các so sánh và công cụ ước tính duy nhất

2. Nỗi hổ thẹn của Phạm Ngũ Lão

– Nợ công: Theo quan niệm của Nho giáo, đây là món nợ lớn mà người đàn ông khi sinh ra đã phải gánh.

+ Nó gồm hai mặt: lập công (để lại kỳ tích, sự nghiệp), lập công danh (để lại tiếng thơm cho hậu thế). Người làm trai phải hoàn thành hai việc này mới được coi là trả được nợ.

+ Liên hệ Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phùng Khắc Khoan, Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ. Họ đều là những người lo lắng về nợ công.

– Phạm Ngũ Lão cho rằng nếu con người không lập được nghiệp thì “xấu hổ nghe lời Vũ Hầu”.

+ Xấu hổ: Cảm thấy mình không bằng người khác, mặc cảm, xấu hổ.

+ Vũ Hầu: Tức Khổng Minh là tấm gương về tinh thần tận tụy, cống hiến để báo đáp Tể tướng. Toàn tâm toàn ý trả món nợ danh vọng đến hơi thở cuối cùng, để lại sự nghiệp vẻ vang và công danh cho hậu thế.

+ Phạm Ngũ Lão: Người từ nhỏ vì lo việc nước, quên mình hiểm nguy, hết lòng phụng sự nhà Trần, được phong làm Diễn suy, tước Nội hầu. Vậy mà anh vẫn cảm thấy xấu hổ.

→ Sự hổ thẹn của Phạm Ngũ Lão rất cao cả của một nhân cách lớn. Thể hiện khát vọng, hoài bão tiến lên để thực hiện lí tưởng.

→ Nỗi tủi hổ của Phạm Ngũ Lão đã đánh thức ý chí làm trai, ý chí lập công của các nam trang thời Trần.

⇒ Bài học cho thế hệ thanh niên ngày nay: Sống phải có ước mơ hoài bão, biết vượt qua khó khăn thử thách để biến ước mơ thành hiện thực, có tinh thần trách nhiệm với cá nhân và cộng đồng.

♦ Tiểu kết:

– Nội dung: Hai câu thơ thể hiện nỗi hổ thẹn cao cả của một nhân cách lớn. Qua đó thể hiện tinh thần yêu nước, khích lệ ý chí lập công, lập nghiệp của các sĩ phu thời Trần.

– Nghệ thuật: Sử dụng bút pháp cổ điển “Thuyết văn biền ngẫu”, phong cách gợi hình kết hợp với phong cách biểu cảm.

III. Chấm dứt

– Khái quát nội dung và nghệ thuật của bài thơ

– Liên hệ với những bài thơ cùng chủ đề yêu nước như Tùng Gia Hoàn Kinh Sử (Trần Quang Khải), Cảm Hoài (Đăng Dung),…

Lập dàn ý thuyết minh về tác phẩm Thú tội - (Tranh 2)


Dàn ý thuyết minh về tác phẩm Hãy thổ lộ lòng mình – Văn mẫu số 3

Tôi. Khai mạc:
Giới thiệu Phạm Ngũ Lão: lai lịch, sự nghiệp, thời đại …
II. Nội dung bài đăng:
– Tìm ý tưởng, chọn ý tưởng:
+ Vốn là một văn nhân yêu nước.
+ Tình cờ gặp Trần Hưng Đạo.
+ Làm thượng khách và sau này là con rể Trần Hưng Đạo.
+ Có nhiều công lao trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên – Mông.
+ Yêu thơ, thích đọc sách và sáng tác.
+ Tác giả của bài thơ Xưng tội (Thuật Hoài) nổi tiếng…
– Sắp xếp các ý: Có thể làm theo thứ tự trên hoặc đảo một số ý trước, miễn là phải có câu chuyển ý phù hợp và lời văn liền mạch…
III. Chấm dứt:
– Khẳng định tài năng và cống hiến to lớn của Phạm Ngũ Lão cho đất nước
– Nên suy nghĩ riêng và có thể rút ra bài học về trách nhiệm, nghĩa vụ của con người đối với đất nước…

Nhà Trần (1226-1400) là một mốc son chói lọi trong 4000 năm dựng nước và giữ nước của lịch sử dân tộc ta. Ba lần kháng chiến và đánh thắng quân Nguyên – Mông xâm lược, nhà Trần đã ghi vào trang sử vàng của Đại Việt những chiến công Chương Dương, Hàm Tử, Bạch Đằng … bất tử.

Khí thế hào hùng, oanh liệt của quân dân ta và các danh tướng thời Trần được các nhà sử học ca ngợi là “Địa linh nhân kiệt”. Thơ văn thời Trần là tiếng nói của những anh hùng – thi sĩ tràn đầy cảm hứng yêu nước mãnh liệt. “Hịch tướng sĩ” của Trần Quốc Tuấn, “Hịch tướng sĩ” của Phạm Ngũ Lão, “Bạch Đằng giang phú” của Trương Hán Siêu.v.v … là những kiệt tác chứa chan lòng yêu nước và tự hào dân tộc. dân tộc.

Phạm Ngũ Lão (1255 – 1320) là danh tướng thời Trần, trăm trận trăm thắng, là người có tài văn võ song toàn. Hiện trong tác phẩm của ông chỉ còn lại hai bài thơ: “Thuật hoài” và “Văn Thượng tướng quốc công Hưng Đạo đại vương”.

Bài thơ “Tỏ lòng” thể hiện niềm tự hào về nam nhi và khát vọng chiến thắng của người anh hùng khi đất nước bị xâm lược. Đó là bức tự họa của danh tướng Phạm Ngũ Lão.

Hoành sóc Giang san Khap Ky

Ba đội quân, hổ và làng bò

Nam tính liễu công danh trái

Nghe lý thuyết dân gian về Wuhou.

Cầm ngang ngọn giáo là một tư thế chiến đấu vô cùng dũng cảm. Câu thơ “Hoàng sóc giang sơn gặp mùa thu” là một câu thơ có hình ảnh kì vĩ, tráng lệ, vừa có chiều dài không gian (giang sơn) vừa có chiều dài lịch sử (giai đoạn thu). Nó thể hiện tư thế của người lính vùng “đồng bằng” khi ra trận hào hùng, hào hoa như những anh hùng trong truyền thuyết. Lòng yêu nước được thể hiện qua bài thơ trang nghiêm cổ: cầm giáo hiên ngang xông pha trận mạc suốt mùa thu để bảo vệ giang sơn thân yêu.

Đội quân của “Thất Thất” ra trận với số lượng rất đông, trùng trùng điệp điệp (ba quân) với sức mạnh phi thường, dũng mãnh như mãnh hổ, quyết tâm đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược. Khí thế của đội quân ấy xông pha trận mạc. Không một thế lực nào, không một kẻ thù nào có thể ngăn cản được. “Ngưu thôn Tề” có nghĩa là tinh thần, ý chí quật cường muốn nuốt chửng sao Kim Ngưu, chế ngự và làm lu mờ ngôi sao Kim Ngưu trên bầu trời. Hay có thể hiểu là: ba quân mạnh nuốt chửng trâu. Biện pháp tu từ tạo nên một hình tượng thơ có tầm vóc hoành tráng, mang tầm vóc vũ trụ: “Ba Quan Sĩ khí thôn ngưu”. Hình ảnh ẩn dụ so sánh: “Ba quân, hổ báo…” trong thơ Phạm Ngũ Lão thật độc đáo, không chỉ có sức thể hiện sâu sắc sức mạnh bất khả chiến bại của đội quân “Thất Thất” mà còn khơi dậy cảm hứng thơ ca. ; tồn tại như một tác phẩm kinh điển, một thi liệu sáng giá trong nền văn học dân tộc:

“Những con tàu đang phù du;

Tinh thần rung động

Bọ cạp ba tay, gươm giáo sáng loáng … ”

(Bạch Đằng giang phú)

Người lính “Bình nguyên” mang trong mình một ước mơ cháy bỏng: khát vọng lập công để trả ơn vua, báo nợ nước. Thời đại anh hùng mới có khát vọng anh hùng! “Giặc tan, báo ân hoàng thượng” (Trần Quốc Toản) – “Đầu trời chưa rơi xuống đất, lòng người đừng lo” (Trần Thủ Độ). “… Dù trăm xác cỏ khô, ngàn xác bọc trong da ngựa, ta vẫn mãn nguyện” (Trần Quốc Tuấn)… Khát vọng ấy là biểu hiện rực rỡ của những tấm lòng trung nghĩa, yêu nước. của các danh tướng, khi tầng lớp quý tộc nhà Trần trong xu thế đi lên đang mang trong mình một sứ mệnh lịch sử to lớn. Họ mơ ước và tự hào về thành tích hiển hách và võ công hiển hách của mình có thể sánh ngang với sự nghiệp anh hùng của Ngô Hầu Gia Cát Lượng thời Tam Quốc. Hai câu cuối dùng điển cố (Vũ Hầu) để nói về món nợ công của người đàn ông trong thời loạn lạc, chiến tranh:

“Danh tiếng của một người vẫn còn mắc nợ

Xấu hổ khi nghe câu chuyện của Wuhou “

“Công danh” mà Phạm Ngũ Lão nói đến trong bài thơ là loại công danh được làm nên bằng xương máu và tài trí, với tinh thần quyết chiến, quyết thắng. Đó không phải là một thứ “công danh” tầm thường, mang đậm màu sắc anh hùng cá nhân. Nợ công như một gánh nặng mà những người đàn ông làm trai thề sẽ phải trả, nguyện trả bằng máu và lòng dũng cảm. Chẳng những “Xấu hổ nghe chuyện Ngô Hầu”, mà còn được học binh thư, rèn luyện cung tên, sẵn sàng chiến đấu “Khiến người giỏi như Bàng Mông, tất cả dòng họ Hậu Nghệ đều có thể chôn đầu Hốt Tất Liệt ở cửa Khế. , giết thịt Vân Nam Vương ở Cao Nhai,… ”để Tổ quốc Đại Việt trường tồn, vững bền:“ Đứng vững ngàn năm ”(Trần Nhân Tông).

“Thuật Hoài” được viết theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt. Giọng thơ hùng hồn, mạnh mẽ. Ngôn ngữ thơ súc tích, hình ảnh nguy nga, tráng lệ, giọng thơ da diết, trang nghiêm, mang đậm phong cách sử thi. Đó sẽ mãi là khúc tráng ca của các anh hùng, chiến sĩ thời Trần sáng ngời “khí phách Đông A”.

Dựa trên Lập dàn ý thuyết minh về tác phẩm Lời thú tội Được chứ Trường ĐH KD & CN Hà Nội Nếu sưu tầm được, hi vọng các em sẽ có thêm nhiều kiến ​​thức và những gợi ý hay để có thể làm tốt bài văn của mình. Chúc may mắn với các nghiên cứu của bạn!

Đăng bởi: Trường ĐH KD & CN Hà Nội

Thể loại: Lớp 10

Thông tin cần xem thêm:

Hình Ảnh về Dàn ý thuyết minh về tác phẩm Tỏ lòng – Văn mẫu 10 hay nhất

Video về Dàn ý thuyết minh về tác phẩm Tỏ lòng – Văn mẫu 10 hay nhất

Wiki về Dàn ý thuyết minh về tác phẩm Tỏ lòng – Văn mẫu 10 hay nhất

Dàn ý thuyết minh về tác phẩm Tỏ lòng – Văn mẫu 10 hay nhất

Dàn ý thuyết minh về tác phẩm Tỏ lòng – Văn mẫu 10 hay nhất -

Vui long tham khảo thông tin đo Lập dàn ý thuyết minh về tác phẩm Lời thú tội ngắn gọn, chi tiết, tốt nhất Trường ĐH KD & CN Hà Nội dưới đây để nắm được những ý chính cần xây dựng cho bài văn Tự sự về bài thơ Tỏ lòng, từ đó củng cố kiến ​​thức về tác phẩm, và viết được bài văn mẫu hay nhất cho bản thân. Hãy cùng tham khảo!

Lập dàn ý thuyết minh cho tác phẩm Lời thú tội - Văn mẫu số 1

I. Giới thiệu:

- Giới thiệu tác phẩm “Lời thú tội”

II. Nội dung bài đăng:

- Tác giả:


+ Phạm Ngũ Lão (1255-1320)

+ Sinh ra tại Hưng Yên

+ Là nhà chính trị lỗi lạc, nhà thơ lớn

- Công việc

+ Thời gian sáng tác không xác định

+ Bố cục: 2 phần

+ Chủ đề: khí phách và khát vọng chiến thắng

+ Nội dung:

Ca ngợi lòng dũng cảm của quân nhà Trần

Tham vọng đóng góp cho đất nước

+ Nghệ thuật:

Thể thơ tứ tuyệt.

Ngắn gọn, súc tích

III. Chấm dứt:

- Thái độ của bản thân

Lập dàn ý thuyết minh cho tác phẩm Lời thú tội - Văn mẫu số 2

I. Giới thiệu

- Giới thiệu tác giả Phạm Ngũ Lão: Là người văn võ song toàn, ông để lại cho đời hai tác phẩm Thuật hoài (Những tấm lòng dạy bảo) và Văn Thượng tướng quân, Hưng Đạo Đại Vương.

- Giới thiệu bài thơ Xưng:

+ Ra đời sau những chiến công hiển hách của quân dân thời Trần đánh đuổi quân Mông Cổ xâm lược.

+ Đoạn thơ làm sống dậy tinh thần của thời đại với niềm hân hoan, tự hào. Đồng thời, nó cũng thể hiện ý thức làm người và khát vọng lập công của người đàn ông.

II. Thân hình

1. Niềm tự hào Đông A qua hình tượng nam nhi và sức mạnh quân sự của nhà Trần.

một. Hình tượng nam trang thời Trần (câu 1)

- Tư thế “sóc phồng”: Múa giáo

+ Dịch nghĩa “cắp giáo” thể hiện sự rắn rỏi, kiên cường, oai phong, tư thế sẵn sàng chiến đấu của người lính.

+ Đoạn thơ dịch nghĩa là “múa giáo”: Thiên về lối diễn xướng phô trương, không thể hiện được nội lực nên không truyền tải được hết ý nghĩa của hình tượng thơ trong nguyên tác.

- Không gian “giang sơn”: Không chỉ có sông, có núi mà còn có núi, có nước, có đất nước.

→ Không gian vũ trụ rộng lớn để nam giới thể hiện tình cảm của mình

- Thời điểm “chớm thu”: vài mùa thu - vài năm

→ Thời gian kéo dài, thể hiện quá trình chịu đựng của một trận chiến lâu dài.

⇒ Chính thời gian và không gian đã nâng tầm vóc của người anh hùng vệ quốc, họ trở nên vĩ đại, sánh ngang với vũ trụ, đất trời, dù có sự tàn phá của thời gian, họ vẫn luôn bên nhau. nhiệm vụ.

b. Sức mạnh của quân đội thời Trần (Câu 2)

- “Tam quân”: Ba quân - quân trước, quân giữa, quân hậu. Hình ảnh thể hiện đội quân thời Trần.

- Sức mạnh của quân đội nhà Trần: Khí phách “ti hổ”, “hùng hổ”.

+ Nghĩa quân được so sánh với “mãnh hổ” - mãnh hổ: dã thú trong rừng sâu qua đó cụ thể hóa sức mạnh, bản lĩnh, tinh thần quật cường quật cường của quân đội nhà Trần.

+ Tác giả làm rõ sức mạnh ấy bằng hình ảnh “hồn làng”: Là biểu tượng của những người trẻ tuổi nhưng khí phách anh hùng.

→ Bằng những hình ảnh so sánh, phóng đại, tác giả đã thể hiện sự ngợi ca, tự hào về sức mạnh và khí phách của quân đội nhà Trần đập tan âm mưu xâm lược của kẻ thù.

♦ Tiểu kết:

- Nội dung:

+ Hai câu thơ đầu làm sống lại thời Trần với hào khí Đông A vang dội núi sông với hình ảnh những anh hùng vệ quốc với tư thế hiên ngang, kiêu hãnh sánh ngang với vũ trụ, quân khí oai hùng.

+ Ẩn sau đó là niềm tự hào của tác giả về sức mạnh và chiến công của dân tộc. Đó là một biểu hiện của lòng yêu nước

- Mỹ thuật:

+ văn gợi tả, không miêu tả, chi tiết.

+ Sử dụng các hình ảnh ước lệ: Khap kỳ thú, Ti hổ, ngưu thôn Tề.

+ Sử dụng các so sánh và công cụ ước tính duy nhất

2. Nỗi hổ thẹn của Phạm Ngũ Lão

- Nợ công: Theo quan niệm của Nho giáo, đây là món nợ lớn mà người đàn ông khi sinh ra đã phải gánh.

+ Nó gồm hai mặt: lập công (để lại kỳ tích, sự nghiệp), lập công danh (để lại tiếng thơm cho hậu thế). Người làm trai phải hoàn thành hai việc này mới được coi là trả được nợ.

+ Liên hệ Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phùng Khắc Khoan, Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ. Họ đều là những người lo lắng về nợ công.

- Phạm Ngũ Lão cho rằng nếu con người không lập được nghiệp thì “xấu hổ nghe lời Vũ Hầu”.

+ Xấu hổ: Cảm thấy mình không bằng người khác, mặc cảm, xấu hổ.

+ Vũ Hầu: Tức Khổng Minh là tấm gương về tinh thần tận tụy, cống hiến để báo đáp Tể tướng. Toàn tâm toàn ý trả món nợ danh vọng đến hơi thở cuối cùng, để lại sự nghiệp vẻ vang và công danh cho hậu thế.

+ Phạm Ngũ Lão: Người từ nhỏ vì lo việc nước, quên mình hiểm nguy, hết lòng phụng sự nhà Trần, được phong làm Diễn suy, tước Nội hầu. Vậy mà anh vẫn cảm thấy xấu hổ.

→ Sự hổ thẹn của Phạm Ngũ Lão rất cao cả của một nhân cách lớn. Thể hiện khát vọng, hoài bão tiến lên để thực hiện lí tưởng.

→ Nỗi tủi hổ của Phạm Ngũ Lão đã đánh thức ý chí làm trai, ý chí lập công của các nam trang thời Trần.

⇒ Bài học cho thế hệ thanh niên ngày nay: Sống phải có ước mơ hoài bão, biết vượt qua khó khăn thử thách để biến ước mơ thành hiện thực, có tinh thần trách nhiệm với cá nhân và cộng đồng.

♦ Tiểu kết:

- Nội dung: Hai câu thơ thể hiện nỗi hổ thẹn cao cả của một nhân cách lớn. Qua đó thể hiện tinh thần yêu nước, khích lệ ý chí lập công, lập nghiệp của các sĩ phu thời Trần.

- Nghệ thuật: Sử dụng bút pháp cổ điển “Thuyết văn biền ngẫu”, phong cách gợi hình kết hợp với phong cách biểu cảm.

III. Chấm dứt

- Khái quát nội dung và nghệ thuật của bài thơ

- Liên hệ với những bài thơ cùng chủ đề yêu nước như Tùng Gia Hoàn Kinh Sử (Trần Quang Khải), Cảm Hoài (Đăng Dung),…

Lập dàn ý thuyết minh về tác phẩm Thú tội - (Tranh 2)


Dàn ý thuyết minh về tác phẩm Hãy thổ lộ lòng mình - Văn mẫu số 3

Tôi. Khai mạc:
Giới thiệu Phạm Ngũ Lão: lai lịch, sự nghiệp, thời đại ...
II. Nội dung bài đăng:
- Tìm ý tưởng, chọn ý tưởng:
+ Vốn là một văn nhân yêu nước.
+ Tình cờ gặp Trần Hưng Đạo.
+ Làm thượng khách và sau này là con rể Trần Hưng Đạo.
+ Có nhiều công lao trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên - Mông.
+ Yêu thơ, thích đọc sách và sáng tác.
+ Tác giả của bài thơ Xưng tội (Thuật Hoài) nổi tiếng…
- Sắp xếp các ý: Có thể làm theo thứ tự trên hoặc đảo một số ý trước, miễn là phải có câu chuyển ý phù hợp và lời văn liền mạch…
III. Chấm dứt:
- Khẳng định tài năng và cống hiến to lớn của Phạm Ngũ Lão cho đất nước
- Nên suy nghĩ riêng và có thể rút ra bài học về trách nhiệm, nghĩa vụ của con người đối với đất nước…

Nhà Trần (1226-1400) là một mốc son chói lọi trong 4000 năm dựng nước và giữ nước của lịch sử dân tộc ta. Ba lần kháng chiến và đánh thắng quân Nguyên - Mông xâm lược, nhà Trần đã ghi vào trang sử vàng của Đại Việt những chiến công Chương Dương, Hàm Tử, Bạch Đằng ... bất tử.

Khí thế hào hùng, oanh liệt của quân dân ta và các danh tướng thời Trần được các nhà sử học ca ngợi là “Địa linh nhân kiệt”. Thơ văn thời Trần là tiếng nói của những anh hùng - thi sĩ tràn đầy cảm hứng yêu nước mãnh liệt. “Hịch tướng sĩ” của Trần Quốc Tuấn, “Hịch tướng sĩ” của Phạm Ngũ Lão, “Bạch Đằng giang phú” của Trương Hán Siêu.v.v ... là những kiệt tác chứa chan lòng yêu nước và tự hào dân tộc. dân tộc.

Phạm Ngũ Lão (1255 - 1320) là danh tướng thời Trần, trăm trận trăm thắng, là người có tài văn võ song toàn. Hiện trong tác phẩm của ông chỉ còn lại hai bài thơ: “Thuật hoài” và “Văn Thượng tướng quốc công Hưng Đạo đại vương”.

Bài thơ “Tỏ lòng” thể hiện niềm tự hào về nam nhi và khát vọng chiến thắng của người anh hùng khi đất nước bị xâm lược. Đó là bức tự họa của danh tướng Phạm Ngũ Lão.

Hoành sóc Giang san Khap Ky

Ba đội quân, hổ và làng bò

Nam tính liễu công danh trái

Nghe lý thuyết dân gian về Wuhou.

Cầm ngang ngọn giáo là một tư thế chiến đấu vô cùng dũng cảm. Câu thơ “Hoàng sóc giang sơn gặp mùa thu” là một câu thơ có hình ảnh kì vĩ, tráng lệ, vừa có chiều dài không gian (giang sơn) vừa có chiều dài lịch sử (giai đoạn thu). Nó thể hiện tư thế của người lính vùng “đồng bằng” khi ra trận hào hùng, hào hoa như những anh hùng trong truyền thuyết. Lòng yêu nước được thể hiện qua bài thơ trang nghiêm cổ: cầm giáo hiên ngang xông pha trận mạc suốt mùa thu để bảo vệ giang sơn thân yêu.

Đội quân của “Thất Thất” ra trận với số lượng rất đông, trùng trùng điệp điệp (ba quân) với sức mạnh phi thường, dũng mãnh như mãnh hổ, quyết tâm đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược. Khí thế của đội quân ấy xông pha trận mạc. Không một thế lực nào, không một kẻ thù nào có thể ngăn cản được. “Ngưu thôn Tề” có nghĩa là tinh thần, ý chí quật cường muốn nuốt chửng sao Kim Ngưu, chế ngự và làm lu mờ ngôi sao Kim Ngưu trên bầu trời. Hay có thể hiểu là: ba quân mạnh nuốt chửng trâu. Biện pháp tu từ tạo nên một hình tượng thơ có tầm vóc hoành tráng, mang tầm vóc vũ trụ: “Ba Quan Sĩ khí thôn ngưu”. Hình ảnh ẩn dụ so sánh: “Ba quân, hổ báo…” trong thơ Phạm Ngũ Lão thật độc đáo, không chỉ có sức thể hiện sâu sắc sức mạnh bất khả chiến bại của đội quân “Thất Thất” mà còn khơi dậy cảm hứng thơ ca. ; tồn tại như một tác phẩm kinh điển, một thi liệu sáng giá trong nền văn học dân tộc:

“Những con tàu đang phù du;

Tinh thần rung động

Bọ cạp ba tay, gươm giáo sáng loáng ... "

(Bạch Đằng giang phú)

Người lính “Bình nguyên” mang trong mình một ước mơ cháy bỏng: khát vọng lập công để trả ơn vua, báo nợ nước. Thời đại anh hùng mới có khát vọng anh hùng! “Giặc tan, báo ân hoàng thượng” (Trần Quốc Toản) - “Đầu trời chưa rơi xuống đất, lòng người đừng lo” (Trần Thủ Độ). “… Dù trăm xác cỏ khô, ngàn xác bọc trong da ngựa, ta vẫn mãn nguyện” (Trần Quốc Tuấn)… Khát vọng ấy là biểu hiện rực rỡ của những tấm lòng trung nghĩa, yêu nước. của các danh tướng, khi tầng lớp quý tộc nhà Trần trong xu thế đi lên đang mang trong mình một sứ mệnh lịch sử to lớn. Họ mơ ước và tự hào về thành tích hiển hách và võ công hiển hách của mình có thể sánh ngang với sự nghiệp anh hùng của Ngô Hầu Gia Cát Lượng thời Tam Quốc. Hai câu cuối dùng điển cố (Vũ Hầu) để nói về món nợ công của người đàn ông trong thời loạn lạc, chiến tranh:

"Danh tiếng của một người vẫn còn mắc nợ

Xấu hổ khi nghe câu chuyện của Wuhou "

“Công danh” mà Phạm Ngũ Lão nói đến trong bài thơ là loại công danh được làm nên bằng xương máu và tài trí, với tinh thần quyết chiến, quyết thắng. Đó không phải là một thứ “công danh” tầm thường, mang đậm màu sắc anh hùng cá nhân. Nợ công như một gánh nặng mà những người đàn ông làm trai thề sẽ phải trả, nguyện trả bằng máu và lòng dũng cảm. Chẳng những “Xấu hổ nghe chuyện Ngô Hầu”, mà còn được học binh thư, rèn luyện cung tên, sẵn sàng chiến đấu “Khiến người giỏi như Bàng Mông, tất cả dòng họ Hậu Nghệ đều có thể chôn đầu Hốt Tất Liệt ở cửa Khế. , giết thịt Vân Nam Vương ở Cao Nhai,… ”để Tổ quốc Đại Việt trường tồn, vững bền:“ Đứng vững ngàn năm ”(Trần Nhân Tông).

“Thuật Hoài” được viết theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt. Giọng thơ hùng hồn, mạnh mẽ. Ngôn ngữ thơ súc tích, hình ảnh nguy nga, tráng lệ, giọng thơ da diết, trang nghiêm, mang đậm phong cách sử thi. Đó sẽ mãi là khúc tráng ca của các anh hùng, chiến sĩ thời Trần sáng ngời “khí phách Đông A”.

Dựa trên Lập dàn ý thuyết minh về tác phẩm Lời thú tội Được chứ Trường ĐH KD & CN Hà Nội Nếu sưu tầm được, hi vọng các em sẽ có thêm nhiều kiến ​​thức và những gợi ý hay để có thể làm tốt bài văn của mình. Chúc may mắn với các nghiên cứu của bạn!

Đăng bởi: Trường ĐH KD & CN Hà Nội

Thể loại: Lớp 10

[rule_{ruleNumber}]

Vui long tham khảo thông tin đo Lập dàn ý thuyết minh về tác phẩm Lời thú tội ngắn gọn, chi tiết, tốt nhất Trường ĐH KD & CN Hà Nội dưới đây để nắm được những ý chính cần xây dựng cho bài văn Tự sự về bài thơ Tỏ lòng, từ đó củng cố kiến ​​thức về tác phẩm, và viết được bài văn mẫu hay nhất cho bản thân. Hãy cùng tham khảo!

Lập dàn ý thuyết minh cho tác phẩm Lời thú tội – Văn mẫu số 1

I. Giới thiệu:

– Giới thiệu tác phẩm “Lời thú tội”

II. Nội dung bài đăng:

– Tác giả:


+ Phạm Ngũ Lão (1255-1320)

+ Sinh ra tại Hưng Yên

+ Là nhà chính trị lỗi lạc, nhà thơ lớn

– Công việc

+ Thời gian sáng tác không xác định

+ Bố cục: 2 phần

+ Chủ đề: khí phách và khát vọng chiến thắng

+ Nội dung:

Ca ngợi lòng dũng cảm của quân nhà Trần

Tham vọng đóng góp cho đất nước

+ Nghệ thuật:

Thể thơ tứ tuyệt.

Ngắn gọn, súc tích

III. Chấm dứt:

– Thái độ của bản thân

Lập dàn ý thuyết minh cho tác phẩm Lời thú tội – Văn mẫu số 2

I. Giới thiệu

– Giới thiệu tác giả Phạm Ngũ Lão: Là người văn võ song toàn, ông để lại cho đời hai tác phẩm Thuật hoài (Những tấm lòng dạy bảo) và Văn Thượng tướng quân, Hưng Đạo Đại Vương.

– Giới thiệu bài thơ Xưng:

+ Ra đời sau những chiến công hiển hách của quân dân thời Trần đánh đuổi quân Mông Cổ xâm lược.

+ Đoạn thơ làm sống dậy tinh thần của thời đại với niềm hân hoan, tự hào. Đồng thời, nó cũng thể hiện ý thức làm người và khát vọng lập công của người đàn ông.

II. Thân hình

1. Niềm tự hào Đông A qua hình tượng nam nhi và sức mạnh quân sự của nhà Trần.

một. Hình tượng nam trang thời Trần (câu 1)

– Tư thế “sóc phồng”: Múa giáo

+ Dịch nghĩa “cắp giáo” thể hiện sự rắn rỏi, kiên cường, oai phong, tư thế sẵn sàng chiến đấu của người lính.

+ Đoạn thơ dịch nghĩa là “múa giáo”: Thiên về lối diễn xướng phô trương, không thể hiện được nội lực nên không truyền tải được hết ý nghĩa của hình tượng thơ trong nguyên tác.

– Không gian “giang sơn”: Không chỉ có sông, có núi mà còn có núi, có nước, có đất nước.

→ Không gian vũ trụ rộng lớn để nam giới thể hiện tình cảm của mình

– Thời điểm “chớm thu”: vài mùa thu – vài năm

→ Thời gian kéo dài, thể hiện quá trình chịu đựng của một trận chiến lâu dài.

⇒ Chính thời gian và không gian đã nâng tầm vóc của người anh hùng vệ quốc, họ trở nên vĩ đại, sánh ngang với vũ trụ, đất trời, dù có sự tàn phá của thời gian, họ vẫn luôn bên nhau. nhiệm vụ.

b. Sức mạnh của quân đội thời Trần (Câu 2)

– “Tam quân”: Ba quân – quân trước, quân giữa, quân hậu. Hình ảnh thể hiện đội quân thời Trần.

– Sức mạnh của quân đội nhà Trần: Khí phách “ti hổ”, “hùng hổ”.

+ Nghĩa quân được so sánh với “mãnh hổ” – mãnh hổ: dã thú trong rừng sâu qua đó cụ thể hóa sức mạnh, bản lĩnh, tinh thần quật cường quật cường của quân đội nhà Trần.

+ Tác giả làm rõ sức mạnh ấy bằng hình ảnh “hồn làng”: Là biểu tượng của những người trẻ tuổi nhưng khí phách anh hùng.

→ Bằng những hình ảnh so sánh, phóng đại, tác giả đã thể hiện sự ngợi ca, tự hào về sức mạnh và khí phách của quân đội nhà Trần đập tan âm mưu xâm lược của kẻ thù.

♦ Tiểu kết:

– Nội dung:

+ Hai câu thơ đầu làm sống lại thời Trần với hào khí Đông A vang dội núi sông với hình ảnh những anh hùng vệ quốc với tư thế hiên ngang, kiêu hãnh sánh ngang với vũ trụ, quân khí oai hùng.

+ Ẩn sau đó là niềm tự hào của tác giả về sức mạnh và chiến công của dân tộc. Đó là một biểu hiện của lòng yêu nước

– Mỹ thuật:

+ văn gợi tả, không miêu tả, chi tiết.

+ Sử dụng các hình ảnh ước lệ: Khap kỳ thú, Ti hổ, ngưu thôn Tề.

+ Sử dụng các so sánh và công cụ ước tính duy nhất

2. Nỗi hổ thẹn của Phạm Ngũ Lão

– Nợ công: Theo quan niệm của Nho giáo, đây là món nợ lớn mà người đàn ông khi sinh ra đã phải gánh.

+ Nó gồm hai mặt: lập công (để lại kỳ tích, sự nghiệp), lập công danh (để lại tiếng thơm cho hậu thế). Người làm trai phải hoàn thành hai việc này mới được coi là trả được nợ.

+ Liên hệ Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phùng Khắc Khoan, Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ. Họ đều là những người lo lắng về nợ công.

– Phạm Ngũ Lão cho rằng nếu con người không lập được nghiệp thì “xấu hổ nghe lời Vũ Hầu”.

+ Xấu hổ: Cảm thấy mình không bằng người khác, mặc cảm, xấu hổ.

+ Vũ Hầu: Tức Khổng Minh là tấm gương về tinh thần tận tụy, cống hiến để báo đáp Tể tướng. Toàn tâm toàn ý trả món nợ danh vọng đến hơi thở cuối cùng, để lại sự nghiệp vẻ vang và công danh cho hậu thế.

+ Phạm Ngũ Lão: Người từ nhỏ vì lo việc nước, quên mình hiểm nguy, hết lòng phụng sự nhà Trần, được phong làm Diễn suy, tước Nội hầu. Vậy mà anh vẫn cảm thấy xấu hổ.

→ Sự hổ thẹn của Phạm Ngũ Lão rất cao cả của một nhân cách lớn. Thể hiện khát vọng, hoài bão tiến lên để thực hiện lí tưởng.

→ Nỗi tủi hổ của Phạm Ngũ Lão đã đánh thức ý chí làm trai, ý chí lập công của các nam trang thời Trần.

⇒ Bài học cho thế hệ thanh niên ngày nay: Sống phải có ước mơ hoài bão, biết vượt qua khó khăn thử thách để biến ước mơ thành hiện thực, có tinh thần trách nhiệm với cá nhân và cộng đồng.

♦ Tiểu kết:

– Nội dung: Hai câu thơ thể hiện nỗi hổ thẹn cao cả của một nhân cách lớn. Qua đó thể hiện tinh thần yêu nước, khích lệ ý chí lập công, lập nghiệp của các sĩ phu thời Trần.

– Nghệ thuật: Sử dụng bút pháp cổ điển “Thuyết văn biền ngẫu”, phong cách gợi hình kết hợp với phong cách biểu cảm.

III. Chấm dứt

– Khái quát nội dung và nghệ thuật của bài thơ

– Liên hệ với những bài thơ cùng chủ đề yêu nước như Tùng Gia Hoàn Kinh Sử (Trần Quang Khải), Cảm Hoài (Đăng Dung),…

Lập dàn ý thuyết minh về tác phẩm Thú tội - (Tranh 2)


Dàn ý thuyết minh về tác phẩm Hãy thổ lộ lòng mình – Văn mẫu số 3

Tôi. Khai mạc:
Giới thiệu Phạm Ngũ Lão: lai lịch, sự nghiệp, thời đại …
II. Nội dung bài đăng:
– Tìm ý tưởng, chọn ý tưởng:
+ Vốn là một văn nhân yêu nước.
+ Tình cờ gặp Trần Hưng Đạo.
+ Làm thượng khách và sau này là con rể Trần Hưng Đạo.
+ Có nhiều công lao trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên – Mông.
+ Yêu thơ, thích đọc sách và sáng tác.
+ Tác giả của bài thơ Xưng tội (Thuật Hoài) nổi tiếng…
– Sắp xếp các ý: Có thể làm theo thứ tự trên hoặc đảo một số ý trước, miễn là phải có câu chuyển ý phù hợp và lời văn liền mạch…
III. Chấm dứt:
– Khẳng định tài năng và cống hiến to lớn của Phạm Ngũ Lão cho đất nước
– Nên suy nghĩ riêng và có thể rút ra bài học về trách nhiệm, nghĩa vụ của con người đối với đất nước…

Nhà Trần (1226-1400) là một mốc son chói lọi trong 4000 năm dựng nước và giữ nước của lịch sử dân tộc ta. Ba lần kháng chiến và đánh thắng quân Nguyên – Mông xâm lược, nhà Trần đã ghi vào trang sử vàng của Đại Việt những chiến công Chương Dương, Hàm Tử, Bạch Đằng … bất tử.

Khí thế hào hùng, oanh liệt của quân dân ta và các danh tướng thời Trần được các nhà sử học ca ngợi là “Địa linh nhân kiệt”. Thơ văn thời Trần là tiếng nói của những anh hùng – thi sĩ tràn đầy cảm hứng yêu nước mãnh liệt. “Hịch tướng sĩ” của Trần Quốc Tuấn, “Hịch tướng sĩ” của Phạm Ngũ Lão, “Bạch Đằng giang phú” của Trương Hán Siêu.v.v … là những kiệt tác chứa chan lòng yêu nước và tự hào dân tộc. dân tộc.

Phạm Ngũ Lão (1255 – 1320) là danh tướng thời Trần, trăm trận trăm thắng, là người có tài văn võ song toàn. Hiện trong tác phẩm của ông chỉ còn lại hai bài thơ: “Thuật hoài” và “Văn Thượng tướng quốc công Hưng Đạo đại vương”.

Bài thơ “Tỏ lòng” thể hiện niềm tự hào về nam nhi và khát vọng chiến thắng của người anh hùng khi đất nước bị xâm lược. Đó là bức tự họa của danh tướng Phạm Ngũ Lão.

Hoành sóc Giang san Khap Ky

Ba đội quân, hổ và làng bò

Nam tính liễu công danh trái

Nghe lý thuyết dân gian về Wuhou.

Cầm ngang ngọn giáo là một tư thế chiến đấu vô cùng dũng cảm. Câu thơ “Hoàng sóc giang sơn gặp mùa thu” là một câu thơ có hình ảnh kì vĩ, tráng lệ, vừa có chiều dài không gian (giang sơn) vừa có chiều dài lịch sử (giai đoạn thu). Nó thể hiện tư thế của người lính vùng “đồng bằng” khi ra trận hào hùng, hào hoa như những anh hùng trong truyền thuyết. Lòng yêu nước được thể hiện qua bài thơ trang nghiêm cổ: cầm giáo hiên ngang xông pha trận mạc suốt mùa thu để bảo vệ giang sơn thân yêu.

Đội quân của “Thất Thất” ra trận với số lượng rất đông, trùng trùng điệp điệp (ba quân) với sức mạnh phi thường, dũng mãnh như mãnh hổ, quyết tâm đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược. Khí thế của đội quân ấy xông pha trận mạc. Không một thế lực nào, không một kẻ thù nào có thể ngăn cản được. “Ngưu thôn Tề” có nghĩa là tinh thần, ý chí quật cường muốn nuốt chửng sao Kim Ngưu, chế ngự và làm lu mờ ngôi sao Kim Ngưu trên bầu trời. Hay có thể hiểu là: ba quân mạnh nuốt chửng trâu. Biện pháp tu từ tạo nên một hình tượng thơ có tầm vóc hoành tráng, mang tầm vóc vũ trụ: “Ba Quan Sĩ khí thôn ngưu”. Hình ảnh ẩn dụ so sánh: “Ba quân, hổ báo…” trong thơ Phạm Ngũ Lão thật độc đáo, không chỉ có sức thể hiện sâu sắc sức mạnh bất khả chiến bại của đội quân “Thất Thất” mà còn khơi dậy cảm hứng thơ ca. ; tồn tại như một tác phẩm kinh điển, một thi liệu sáng giá trong nền văn học dân tộc:

“Những con tàu đang phù du;

Tinh thần rung động

Bọ cạp ba tay, gươm giáo sáng loáng … ”

(Bạch Đằng giang phú)

Người lính “Bình nguyên” mang trong mình một ước mơ cháy bỏng: khát vọng lập công để trả ơn vua, báo nợ nước. Thời đại anh hùng mới có khát vọng anh hùng! “Giặc tan, báo ân hoàng thượng” (Trần Quốc Toản) – “Đầu trời chưa rơi xuống đất, lòng người đừng lo” (Trần Thủ Độ). “… Dù trăm xác cỏ khô, ngàn xác bọc trong da ngựa, ta vẫn mãn nguyện” (Trần Quốc Tuấn)… Khát vọng ấy là biểu hiện rực rỡ của những tấm lòng trung nghĩa, yêu nước. của các danh tướng, khi tầng lớp quý tộc nhà Trần trong xu thế đi lên đang mang trong mình một sứ mệnh lịch sử to lớn. Họ mơ ước và tự hào về thành tích hiển hách và võ công hiển hách của mình có thể sánh ngang với sự nghiệp anh hùng của Ngô Hầu Gia Cát Lượng thời Tam Quốc. Hai câu cuối dùng điển cố (Vũ Hầu) để nói về món nợ công của người đàn ông trong thời loạn lạc, chiến tranh:

“Danh tiếng của một người vẫn còn mắc nợ

Xấu hổ khi nghe câu chuyện của Wuhou “

“Công danh” mà Phạm Ngũ Lão nói đến trong bài thơ là loại công danh được làm nên bằng xương máu và tài trí, với tinh thần quyết chiến, quyết thắng. Đó không phải là một thứ “công danh” tầm thường, mang đậm màu sắc anh hùng cá nhân. Nợ công như một gánh nặng mà những người đàn ông làm trai thề sẽ phải trả, nguyện trả bằng máu và lòng dũng cảm. Chẳng những “Xấu hổ nghe chuyện Ngô Hầu”, mà còn được học binh thư, rèn luyện cung tên, sẵn sàng chiến đấu “Khiến người giỏi như Bàng Mông, tất cả dòng họ Hậu Nghệ đều có thể chôn đầu Hốt Tất Liệt ở cửa Khế. , giết thịt Vân Nam Vương ở Cao Nhai,… ”để Tổ quốc Đại Việt trường tồn, vững bền:“ Đứng vững ngàn năm ”(Trần Nhân Tông).

“Thuật Hoài” được viết theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt. Giọng thơ hùng hồn, mạnh mẽ. Ngôn ngữ thơ súc tích, hình ảnh nguy nga, tráng lệ, giọng thơ da diết, trang nghiêm, mang đậm phong cách sử thi. Đó sẽ mãi là khúc tráng ca của các anh hùng, chiến sĩ thời Trần sáng ngời “khí phách Đông A”.

Dựa trên Lập dàn ý thuyết minh về tác phẩm Lời thú tội Được chứ Trường ĐH KD & CN Hà Nội Nếu sưu tầm được, hi vọng các em sẽ có thêm nhiều kiến ​​thức và những gợi ý hay để có thể làm tốt bài văn của mình. Chúc may mắn với các nghiên cứu của bạn!

Đăng bởi: Trường ĐH KD & CN Hà Nội

Thể loại: Lớp 10

Bạn thấy bài viết Dàn ý thuyết minh về tác phẩm Tỏ lòng – Văn mẫu 10 hay nhất có giải quyết đươc vấn đề bạn tìm hiểu không?, nếu  không hãy comment góp ý thêm về Dàn ý thuyết minh về tác phẩm Tỏ lòng – Văn mẫu 10 hay nhất bên dưới để https://hubm.edu.vn/ có thể chỉnh sửa & cải thiện nội dung tốt hơn cho độc giả nhé! Cám ơn bạn đã ghé thăm Website ĐH KD & CN Hà Nội

Nguồn: hubm.edu.vn

#Dàn #thuyết #minh #về #tác #phẩm #Tỏ #lòng #Văn #mẫu #hay #nhất

Xem thêm bài viết hay:  Đề kiểm tra 1 tiết Toán 11 Chương 4 Đại số – Đề 6

ĐH KD & CN Hà Nội

Trường Đại học Quản lý và Kinh doanh Hà nội là một trường dân lập, thuộc Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam, được phép thành lập theo Quyết định số 405/TTg, ngày 15/6/1996 của Thủ tướng Chính phủ. Trường chịu sự quản lý Nhà nước của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Hệ thống văn bằng của Trường nằm trong hệ thống văn bằng quốc gia. Ngày 15/09/2006 Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định số 750/QĐ-TTg về việc đổi tên trường thành Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button