Công Nghệ

Đẩy mạnh triển khai dịch vụ công trực tuyến – bước đà phát triển CPĐT tới chính phủ số

Có phải bạn đang tìm kiếm chủ đề về => Đẩy mạnh triển khai dịch vụ công trực tuyến – bước đà phát triển CPĐT tới chính phủ số
phải không? Nếu đúng như vậy thì mời bạn xem nó ngay tại đây. Xem thêm các bài viết hay khác tại đây => Công nghệ

Hai năm chống chọi với đại dịch COVID-19, việc sử dụng dịch vụ công (DVC) trực tuyến (DVCTT) để cải thiện và tiết kiệm chi phí cho người dân, doanh nghiệp (DN) không còn là một ưu tiên cần cân nhắc mà đã là một nhiệm vụ cấp bách và ưu tiên hàng đầu của Chính phủ và của các bộ, ngành, địa phương. Điều này đã cho thấy sự đúng đắn trong chỉ đạo và định hướng xây dựng chính quyền điện tử với trọng tâm cung cấp DVCTT theo các Nghị quyết số 50/NQ-CP năm 2020 của Chính phủ, Nghị quyết số 52-NQ/TW năm 2019 của Bộ Chính trị, Nghị quyết số 17/NQ-CP năm 2019 của Chính phủ.

Việc đẩy mạnh cung cấp DVCTT đã không chỉ tạo thuận lợi cho người dân, DN mà còn góp phần đảm bảo hoạt động bình thường cho người dân, DN trong giai đoạn đại dịch COVID-19.

Hiện nay, chuyển đổi số (CĐS) không còn là một lựa chọn mà đã là tất yếu. Những cải cách của Chính phủ đều được xây dựng trên một nền tảng số lấy chính phủ điện tử (CPĐT) làm trọng tâm và lấy người dân làm trung tâm.

Ngày 15/06/2021, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 942/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển CPĐT hướng tới Chính phủ số giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030. Chiến lược đặt ra 05 nhóm mục tiêu chính đến năm 2025, trong đó mục tiêu đầu tiên là Cung cấp dịch vụ chất lượng phục vụ xã hội. Theo đó, người dân, DN có thể sử dụng dịch vụ số theo nhu cầu cá thể hóa, theo suốt cuộc đời, khi cần, theo cách thuận tiện, trực tuyến hoặc trực tiếp, dễ dàng, đơn giản, nhanh chóng, không giấy tờ, không cần sự hiện diện nếu pháp luật không yêu cầu.

Từ 10 năm trước, để thúc đẩy phát triển CPĐT, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 43/2011/NĐ-CP ngày 13/6/2011 của Chính phủ quy định về việc cung cấp thông tin và DVCTT trên trang thông tin điện tử (TTĐT) hoặc cổng TTĐT của cơ quan nhà nước (CQNN) (Nghị định 43/2011/NĐ-CP). Nghị định trở thành văn bản pháp lý quan trọng quy định về việc cung cấp thông tin và DVCTT.

Đứng trước sự phát triển và yêu cầu mới về CĐS, phát triển Chính phủ số, việc đánh giá một chặng đường triển khai cung cấp thông tin và DVCTT đã qua trong triển khai CPĐT sẽ cho chúng ta bức tranh về những kết quả đạt được, những vấn đề còn tồn tại, qua đó làm nền tảng, tạo đà tiếp tục phát triển CPĐT hướng tới Chính phủ số.

Cung cấp thông tin về hoạt động của CQNN trở thành thiết yếu, thường nhật

100% bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Ủy ban nhân dân (UBND) các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trang/cổng thông tin điện tử; 100% UBND các quận, huyện, thị xã có trang/cổng TTĐT để cung cấp thông tin cho người dân, DN trên môi trường mạng.

100% Cổng thông tin điện tử của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương công khai thông tin chủ yếu đầy đủ theo quy định tại Nghị định số 43/2011/NĐ-CP; 100% Cổng TTĐT của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cho phép tìm kiếm và tải về các văn bản quy phạm pháp luật.

100% Cổng TTĐT của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có chức năng tiếp nhận, phản hồi thông tin từ người dân và đăng tải đầy đủ các câu hỏi, trả lời trong mục Trao đổi – Hỏi đáp, cho phép người dân đánh giá và xếp hạng đối với một số nội dung thông tin mà cơ quan cung cấp. 

Theo Báo cáo khảo sát xếp hạng mức độ phát triển CPĐT của Liên Hợp Quốc năm 2020, chỉ số Tham gia trực tuyến (E-participation) của Việt Nam xếp ở vị trí số 70/193, tăng 2 bậc so với năm 2018 và xếp ở mức cao.

DVCTT có bước tiến vượt bậc về số lượng và hiệu quả

Từ năm 2020, thực hiện Nghị quyết số 17/NQ-CP của Chính phủ, Bộ TT&TT đã có nhiều văn bản hướng dẫn các bộ, ngành, địa phương đã đẩy mạnh triển khai cung cấp DVCTT mức độ 4 để phục vụ người dân, DN và đã đạt được mục tiêu cung cấp tối thiểu 30% DVCTT mức độ 4 vào năm 2020 nêu tại Nghị quyết số 17/NQ-CP. Cụ thể, tính Quý 3/2021, tỉ lệ DVCTT mức độ 3,4 của cả nước đạt 68,20%; trong đó tỉ lệ DVCTT mức độ 3 là 19,93%, tỉ lệ DVCTT mức độ 4 là 48,27%, trong đó tỉ lệ DVCTT mức 4, trung bình cả nước tăng gấp 4,5 lần so năm 2019 và gấp 1,5 lần so với năm 2020. 

Bên cạnh đó, thành công ban đầu của Cổng DVC quốc gia là một ví dụ điển hình đối với việc tạo thuận lợi để người dân, DN tham gia sử dụng DVCTT.

Xét về hiệu quả cung cấp DVCTT, tính từ thời điểm dịch bệnh COVID-19 diễn ra, tỉ lệ DVCTT có phát sinh hồ sơ trực tuyến tăng nhanh khoảng 2,6 lần (năm 2019 là 14,63%; năm 11/2021 là 36,47%). Một số lĩnh vực có hiệu quả cao như thuế (99,8% DN khai thuế điện tử), hải quan (99,7% DN thực hiện hải quan điện tử), DVCTT về chi Ngân sách nhà nước tại hệ thống Kho bạc Nhà nước đạt 100% số đơn vị sử dụng ngân sách (trừ khối an ninh quốc phòng) và đạt 98% giao dịch chi Ngân sách Nhà nước được thực hiện trực tuyến. 

Một số bộ, tỉnh đã triển khai đồng loạt các DVC trên một nền tảng thống nhất với các chức năng, thành phần dùng chung, đáp ứng các yêu cầu về chia sẻ, đồng bộ dữ liệu để cung cấp 100% dịch vụ công đủ điều kiện lên trực tuyến mức độ 4. Tiêu biểu như: Bộ Y tế, Bộ TT&TT, Bảo hiểm Xã hội Việt Nam, Bộ Công Thương,.. các tỉnh, thành phố: Bình Dương, Đà Nẵng, Lào Cai, Nam Định, Ninh Thuận, Quảng Ninh, Thái Nguyên, Tây Ninh,… 

Tỉ lệ cung cấp DVCTT mức độ 4 (từ 2019 đến quý 3/2011)

Đến nay, 100% bộ, ngành, địa phương đã có Cổng DVC, Hệ thống một cửa điện tử cấp bộ, cấp tỉnh để tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính, cung cấp DVCTT và từng bước tích hợp dịch vụ lên Cổng DVC Quốc gia.

Những năm qua, với vai trò là đầu mối giúp Chính phủ tổng hợp, đánh giá, hướng dẫn các đơn vị thực hiện nhiệm vụ CĐS quốc gia toàn diện, Bộ TT&TT đã ban hành nhiều văn bản, hướng dẫn các đơn vị thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ này. Đặc biệt từ đầu năm 2021 đến nay, Bộ TT&TT ban hành nhiều văn thực hiện hiệu quả nhiệm vụ cung cấp dịch vụ công đủ điều kiện lên trực tuyến mức độ 4 như các văn bản số 1144/BTTTT-THH, 1145/BTTTT-THH, 2626/BTTTT-THH…. 

Bên cạnh việc ban hành các văn bản, Bộ TT&TT đưa ra các khuyến nghị, giải pháp kỹ thuật, công nghệ cho các đơn vị, muốn đẩy nhanh quá trình triển khai nhiệm vụ này, cần sử dụng triệt để các giải pháp công nghệ nhằm triển khai thành công DVCTT. Bên cạnh đó, cần tăng cường công tác truyền thông và quảng bá hiệu quả về DVCTT để người dân, DN hiểu rõ hơn về lợi ích mang lại từ việc sử dụng DVCTT. Đặc biệt, địa phương cần chú trọng đổi mới nội dung và hình thức tuyên truyền phải được thực hiện đồng bộ theo một chương trình tuyên truyền và phù hợp với từng đối tượng thụ hưởng.

Năm 2021, dịch bệnh COVID-19 tái bùng phát đã làm thay đổi dần thói quen sinh hoạt, giao dịch của người dân. Do dịch bệnh, giãn cách xã hội, hạn chế tiếp xúc, người dân đã được hướng dẫn kỹ về cách sử dụng DVCTT. Các tỉnh, thành phố có tình hình dịch COVID-19 phức tạp cũng đã thông báo tạm dừng giao dịch trực tiếp tại các bộ phận hành chính. Một số địa phương như: Bắc Giang, Bình Dương, Bà Rịa – Vũng Tàu, TP. Đà Nẵng, Khánh Hòa, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Thanh Hóa, Thừa Thiên Huế, Vĩnh Long… đã có văn bản yêu cầu tạm dừng giao dịch trực tiếp tại Bộ phận Một cửa tại các khu vực cách ly xã hội và khuyến khích người dân, DN sử dụng DVCTT trên Cổng DVC quốc gia, Cổng dịch vụ công tỉnh hoặc dịch vụ bưu chính công ích thông qua hệ thống Bưu điện để nộp hồ sơ và nhận kết quả giải quyết thủ tục hành chính (TTHC) tại nhà. 

Để khuyến khích, hỗ trợ, tạo mọi điều kiện cho mọi người dân khi tham gia thực hiện các TTHC trên môi trường mạng, TP. Hồ Chí Minh giảm 50% lệ phí DVCTT mức độ 3 và 4 đối với 06 loại lệ phí dịch vụ: đăng ký cư trú; hộ tịch; cấp giấy phép lao động cho người lao động nước ngoài tại Việt Nam; đăng ký kinh doanh; cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà, tài sản gắn liền với đất và cấp giấy xây dựng.

Các tỉnh, thành phố cũng đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó tập trung thực hiện cơ chế một cửa liên thông giữa sở, ban, ngành, UBND các cấp, các cơ quan thuộc ngành dọc đóng trên địa bàn tỉnh, thành phố trong giải quyết TTHC. Việc ban hành các giải pháp đã giúp người dân tỉnh, thành phố ngày càng tích cực tham gia sử dụng các DVCTT, đồng thời cùng đồng hành với các cấp chính quyền tỉnh, thành phố thực hiện tốt chương trình cải cách TTHC.

Việc cung cấp thông tin và DVCTT đã mang lại hiệu quả cao. Thông tin đầy đủ đã giúp người dân hiểu rõ các hoạt động của CQNN, của chính quyền tạo sự tin tưởng; DVCTT nâng cao chất lượng phục vụ người dân, giúp người dân tiết kiệm chi phí, giúp CQNN hoạt động hiệu quả hơn.

Cần tiếp tục hoàn thiện, phát triển để hội nhập quốc tế

Mặc dù việc cung cấp thông tin và DVCTT đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, tuy nhiên công việc này vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế cần được quan tâm giải quyết triệt để hội nhập quốc tế, tạo đà cho phát triển Chính phủ số. Cụ thể như sau:

Về cung cấp thông tin

Phương thức cung cấp thông tin cần được cải tiến:

– Giao diện truy cập thông tin trên các trang/cổng TTĐT của nhiều CQNN thiếu tính thân thiện, phức tạp với người dân. Thông tin về cùng một nội dung có khi chưa được cung cấp thống nhất giữa các trang TTĐT khác nhau, đặc biệt là việc cập nhật các quy định, chính sách; 

– Khả năng tương tác hai chiều giữa CQNN với người dân còn hạn chế; người dân thường phải gọi điện đến đường dây nóng, hoặc gửi câu hỏi, kiến nghị đến mục Hỏi & Đáp trên Cổng TTĐT và sau một khoảng thời gian khá lâu mới được trả lời;

– Chức năng giao tiếp trực tuyến với CQNN theo thời gian thực gần như chưa được thực hiện;

– Chưa đa dạng kênh cung cấp thông tin cho người dân và DN; việc truy cập đến trang/cổng TTĐT của CQNN trên thiết bị di động còn rất hạn chế. 

Nội dung quy định về cung cấp thông tin tại Nghị định số 43/2011/NĐ-CP có một số tồn tại, hạn chế, thiếu cập nhật so với các quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật ban hành sau này, như Luật Tiếp cận thông tin, Luật Ngân sách nhà nước, Luật Khoa học và công nghệ,…

Các cổng TTĐT được xây dựng từ trước nên đã có khác biệt so với xu hướng phát triển của quốc tế: Các quy định về trang/cổng TTĐT của CQNN theo Nghị định số 43/2011/NĐ-CP còn chưa phù hợp với cách đánh giá của các tổ chức thế giới. Ví dụ như Báo cáo khảo sát xếp hạng mức độ phát triển CPĐT của Liên Hợp Quốc năm 2020 khi đánh giá Cổng TTĐT của một số thành phố được chọn lựa trên thế giới gồm 80 chỉ số liên quan đến 4 tiêu chí: công nghệ; cung cấp nội dung; cung cấp dịch vụ; sự tham gia và gắn kết.

Ảnh minh hoạ (Nguồn: thaibinh.gov.vnn)

Về cung cấp DVCTT

Việc cung cấp DVCTT của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương vẫn còn nhiều hạn chế, cả về số lượng và chất lượng.

Nguyên nhân của hạn chế trên ngoài vấn đề về công nghệ, một nguyên nhân được coi là mấu chốt là vấn đề quy định về xây dựng DVCTT đã chưa được cập nhật kịp thời theo xu thế phát triển.

Mặc dù môi trường pháp lý cho cung cấp DVCTT tiếp tục được hoàn thiện tại các văn bản quy phạm pháp luật sau này (gồm Nghị định số 107/2021/NĐ-CP ngày 06/12/2021 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 61/2018/NĐ-CP ngày 23/4/2018 của Chính phủ về thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết TTHC; Nghị định số 45/2020/NĐ-CP ngày 08/4/2020 của Chính phủ về thực hiện TTHC trên môi trường điện tử), nhưng đến nay, vẫn chưa có một văn bản quy phạm pháp luật quy định quản lý tổng thể toàn trình, toàn diện việc cung cấp DVCTT; đáp ứng xu thế cung cấp dịch vụ số ngày càng đa dạng về thể loại và thông qua nhiều kênh số khác nhau.

Với sự ra đời từ cách đây 10 năm, đến nay, so với các đòi hỏi thực tế về cung cấp dịch vụ số (bao gồm cả dịch vụ cung cấp thông tin và DVCTT), Nghị định số 43/2011/ NĐ-CP đã chưa bao quát hết được các vấn đề như sau:

– Về kênh cung cấp dịch vụ: Nghị định số 43/2011/NĐ-CP chưa quy định cho việc cung cấp DVCTT qua các kênh số khác như ứng dụng di động, mạng xã hội… Cổng DVC cấp bộ, cấp tỉnh thiếu tính thân thiện, đơn giản cho tất cả các đối tượng người dân (bao gồm cả những người có kỹ năng về CNTT thấp, người khuyết tật…). 

– Về phạm vi nội dung cung cấp DVCTT: quy định trong Nghị định số 43/2011/NĐ-CP mới chỉ tập trung về việc cung cấp dịch vụ hành chính công của CQNN trên môi trường mạng, mà chưa quy định nào về dịch vụ khác, ví dụ như dịch vụ công trong lĩnh vực sự nghiệp, dịch vụ cung cấp thông tin theo yêu cầu, dịch vụ sáng tạo,…

– Về việc chuẩn hóa DVC: Theo Khoản 3, Điều 4 của Nghị định số 43/2011/NĐ-CP thì mỗi dịch vụ hành chính công gắn liền với một TTHC để giải quyết hoàn chỉnh một công việc cụ thể liên quan đến tổ chức, cá nhân. Tuy nhiên, hiện nay chưa chuẩn hóa được nội dung, danh mục dịch vụ công của trên phạm cả nước, nên việc triển khai DVCTT thiếu hiệu quả; khó nhân rộng, sử dụng lại các nền tảng cung cấp DVCTT trong các CQNN; việc thống kê số lượng DVCTT trên quy mô toàn quốc cũng gặp khó khăn, thiếu thống nhất.

– Về xác định mức độ cung cấp DVCTT: Nội dung quy định về tiêu chí, cách thức xác định mức độ DVCTT trong Nghị định số 43/2011/NĐ-CP vẫn còn chưa rõ ràng, nên nhiều bộ, ngành, địa phương hiểu không thống nhất về cách xác định mức độ cung cấp DVCTT.

– Về định danh, xác thực điện tử: Quy định về danh tính số, định danh, xác thực điện tử trong các giao dịch trên môi trường mạng hiện vẫn đang được nghiên cứu, xây dựng để thực hiện thống nhất trên toàn quốc, không chỉ áp dụng trong các giao dịch với CQNN. Hiện một số bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương yêu cầu người dân đăng ký và xác thực bằng tài khoản email để sử dụng, trong khi nhiều người dân không có email (tình trạng chung của đa số người dân ở nông thôn). Khi nộp hồ sơ xong, sau một thời gian khá lâu, người dân mới có thể nhận được thông báo của cơ quan nhà nước về việc tiếp nhận hồ sơ và thường thông báo qua email.

– Về liên thông quy trình thủ tục, dữ liệu: Chưa có quy định về liên thông quy trình, liên thông dữ liệu giữa các CQNN trong quá trình xử lý hồ sơ của người dân, DN; điều này cản trở việc tích hợp, chia sẻ dữ liệu giữa các hệ thống cung cấp DVCTT để giảm thiểu giấy tờ người dân phải cung cấp, hạn chế tình trạng người dân phải cung cấp lặp lại thông tin cho các CQNN. Nhiều khi còn phát sinh một số quy trình xử lý hồ sơ ngoài các quy định hiện hành, như: Yêu cầu nộp đồng thời trực tuyến và trực tiếp cùng 01 hồ sơ trước khi tiếp nhận, xử lý (ví dụ: Cấp lý lịch tư pháp); trả hồ sơ bằng dịch vụ bưu chính ngoài công ích, cán bộ tự trả kết quả hồ sơ tại nhà; thanh toán phí, lệ phí thủ tục hành chính qua dịch vụ bưu chính công ích… 

– Về sự tham gia của các tổ chức ngoài nhà nước cung cấp DVC: Chưa có cơ chế, quy định rõ ràng, tạo điều kiện cho DN tham gia sâu vào quá trình cung cấp DVCTT (hiện nay mới chỉ được tham gia một số bước trong quy trình, như nhận hồ sơ, trả kết quả, thanh toán trực tuyến). Chính vì vậy, chưa thu hút được nguồn lực xã hội để cung cấp dịch vụ đa dạng, chất lượng cao tới người dân và DN.

– Về cơ chế khuyến khích sử dụng DVCTT: Chưa có chính sách khuyến khích, tạo điều kiện cho người dân sử dụng DVCTT (Ví dụ như: chính sách cung cấp thiết bị CNTT cho người dân; chính sách ưu tiên về thời gian xử lý thủ tục, chi phí thực hiện dịch vụ qua môi trường số…).

Bên cạnh các vấn đề trên, quy định về DVCTT theo Nghị định 43/2011/NĐ-CP đã chưa sửa đổi kịp thời theo xu hướng quốc tế. Mặc dù theo đánh giá của Liên Hợp Quốc năm 2020, chỉ số Dịch vụ trực tuyến (OSI – Online Service Index) của Việt Nam được xếp ở mức cao, tuy nhiên, đánh giá DVCTT Việt Nam thì có một số tiêu chí chưa đồng bộ hoặc còn thiếu so với yêu cầu của Liên Hợp Quốc.

Cụ thể như sau:

– Việc phân chia mức độ DVCTT, kênh cung cấp DVCTT, tính năng DVCTT (như sử dụng ứng dụng di động, mạng xã hội, hỗ trợ xác thực danh tính số,…); các yêu cầu kỹ thuật về cung cấp DVCTT tại Nghị định số 43/2011/NĐ-CP còn thiếu hoặc chưa đồng bộ với quy định mới của quốc tế. 

– Một số nước có xếp hạng cao về chỉ số DVCTT theo Báo cáo khảo sát xếp hạng mức độ phát triển CPĐT của Liên Hợp Quốc năm 2020 (như Singapore, xếp hạng 5/193; Anh, xếp hạng 6/19; Úc, xếp hạng 7/193; Ấn Độ, xếp hạng 24/193) đã ban hành chính sách, tiêu chuẩn, hướng dẫn kỹ thuật về dịch vụ số do các cơ quan công quyền cung cấp nhằm mục đích tăng khả năng linh hoạt, nhanh chóng cung cấp dịch vụ mới, cho phép sự tham gia nhiều hơn của người dân, DN. Trong khi Việt Nam vẫn chưa có hướng dẫn về các yêu cầu kỹ thuật khi thiết kế, triển khai, cung cấp, giám sát tự động… cho các dịch vụ số của CQNN.

Bàn luận và kiến nghị

Sau 10 năm thực hiện Nghị định số 43/2011/NĐ- CP, việc cung cấp thông tin và DVCTT của cơ quan nhà nước đã đạt được một số kết quả quan trọng, góp phần tiết kiệm thời gian, chi phí, làm cho hoạt động của các CQNN minh bạch, hiệu quả hơn; góp phần phòng, chống tham nhũng, thực hiện cải cách hành chính toàn diện. Tuy nhiên, việc cung cấp thông tin và DVCTT vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế, trong cả thực tế triển khai và môi trường pháp lý.

Để đẩy mạnh việc cung cấp hiệu quả DVCTT, việc nghiên cứu bổ sung, cập nhật các văn bản quy phạm pháp luật về cung cấp thông tin và DVCTT là cần thiết để bảo đảm dữ liệu số, dịch vụ số được tối ưu hóa, phù hợp với thông lệ quốc tế để hướng Chính phủ số hội nhập. Trong đó, quy định quản lý tổng thể toàn trình, toàn diện việc cung cấp DVCTT là điểm mấu chốt cần được quan tâm triển khai.

Nhằm quản lý được toàn trình, toàn diện, cần bổ sung quy định cụ thể toàn bộ các bước trong quy trình dịch vụ (tiêu biểu gồm các bước: nộp hồ sơ; tiếp nhận hồ sơ; giải quyết hồ sơ; trả kết quả tới người dân, DN); quy định được các yếu tố, điều kiện để thực thi các bước trong quy trình dịch vụ, bao gồm cả các quy định về mặt kỹ thuật (Ví dụ như: các yêu cầu về kỹ thuật khi thiết kế, triển khai, cung cấp, giám sát tự động,…).

Cùng với đó, nhằm đáp ứng xu thế cung cấp dịch vụ số ngày càng đa dạng về thể loại và thông qua nhiều kênh số khác nhau, cũng cần quy định thêm các loại hình dịch vụ số mà cơ quan nhà nước cung cấp (ngoài các dịch vụ hành chính công), quy định thêm các kênh số để cung cấp dịch vụ nhanh chóng, thuận tiện, cá thể hóa theo nhu cầu, mọi lúc, mọi nơi, qua nhiều thiết bị (ngoài việc cung cấp qua Cổng DVC).

Từ năm 2020, Liên Hợp Quốc xác định là năm khởi đầu của thập kỷ 20 và Chính phủ số là giải pháp quan trọng nhằm cụ thể hóa Mục tiêu phát triển bền vững đặt ra đến năm 2030. Việc đẩy mạnh việc cung cấp hiệu quả DVCTT (một trong 3 trụ cột của Chính phủ số theo đánh giá của Liên Hợp Quốc) với mục tiêu cung cấp 100% dịch vụ công đủ điều kiện lên trực tuyến mức độ 4 và hoàn thiện thể chế về cung cấp DVCTT là bước đà quan trọng cho việc phát triển CPĐT hướng tới Chính phủ số của Việt Nam.

(Bài đăng ấn phẩm in Tạp chí TT&TT số 12 tháng 12/2021)


Thông tin thêm

Đẩy mạnh triển khai dịch vụ công trực tuyến – bước đà phát triển CPĐT tới chính phủ số

Hai năm chống chọi với đại dịch COVID-19, việc sử dụng dịch vụ công (DVC) trực tuyến (DVCTT) để cải thiện và tiết kiệm chi phí cho người dân, doanh nghiệp (DN) không còn là một ưu tiên cần cân nhắc mà đã là một nhiệm vụ cấp bách và ưu tiên hàng đầu của Chính phủ và của các bộ, ngành, địa phương. Điều này đã cho thấy sự đúng đắn trong chỉ đạo và định hướng xây dựng chính quyền điện tử với trọng tâm cung cấp DVCTT theo các Nghị quyết số 50/NQ-CP năm 2020 của Chính phủ, Nghị quyết số 52-NQ/TW năm 2019 của Bộ Chính trị, Nghị quyết số 17/NQ-CP năm 2019 của Chính phủ.

Việc đẩy mạnh cung cấp DVCTT đã không chỉ tạo thuận lợi cho người dân, DN mà còn góp phần đảm bảo hoạt động bình thường cho người dân, DN trong giai đoạn đại dịch COVID-19.

Hiện nay, chuyển đổi số (CĐS) không còn là một lựa chọn mà đã là tất yếu. Những cải cách của Chính phủ đều được xây dựng trên một nền tảng số lấy chính phủ điện tử (CPĐT) làm trọng tâm và lấy người dân làm trung tâm.

Ngày 15/06/2021, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 942/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển CPĐT hướng tới Chính phủ số giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030. Chiến lược đặt ra 05 nhóm mục tiêu chính đến năm 2025, trong đó mục tiêu đầu tiên là Cung cấp dịch vụ chất lượng phục vụ xã hội. Theo đó, người dân, DN có thể sử dụng dịch vụ số theo nhu cầu cá thể hóa, theo suốt cuộc đời, khi cần, theo cách thuận tiện, trực tuyến hoặc trực tiếp, dễ dàng, đơn giản, nhanh chóng, không giấy tờ, không cần sự hiện diện nếu pháp luật không yêu cầu.

Từ 10 năm trước, để thúc đẩy phát triển CPĐT, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 43/2011/NĐ-CP ngày 13/6/2011 của Chính phủ quy định về việc cung cấp thông tin và DVCTT trên trang thông tin điện tử (TTĐT) hoặc cổng TTĐT của cơ quan nhà nước (CQNN) (Nghị định 43/2011/NĐ-CP). Nghị định trở thành văn bản pháp lý quan trọng quy định về việc cung cấp thông tin và DVCTT.

Đứng trước sự phát triển và yêu cầu mới về CĐS, phát triển Chính phủ số, việc đánh giá một chặng đường triển khai cung cấp thông tin và DVCTT đã qua trong triển khai CPĐT sẽ cho chúng ta bức tranh về những kết quả đạt được, những vấn đề còn tồn tại, qua đó làm nền tảng, tạo đà tiếp tục phát triển CPĐT hướng tới Chính phủ số.

Cung cấp thông tin về hoạt động của CQNN trở thành thiết yếu, thường nhật

100% bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Ủy ban nhân dân (UBND) các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trang/cổng thông tin điện tử; 100% UBND các quận, huyện, thị xã có trang/cổng TTĐT để cung cấp thông tin cho người dân, DN trên môi trường mạng.

100% Cổng thông tin điện tử của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương công khai thông tin chủ yếu đầy đủ theo quy định tại Nghị định số 43/2011/NĐ-CP; 100% Cổng TTĐT của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cho phép tìm kiếm và tải về các văn bản quy phạm pháp luật.

100% Cổng TTĐT của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có chức năng tiếp nhận, phản hồi thông tin từ người dân và đăng tải đầy đủ các câu hỏi, trả lời trong mục Trao đổi - Hỏi đáp, cho phép người dân đánh giá và xếp hạng đối với một số nội dung thông tin mà cơ quan cung cấp. 

Theo Báo cáo khảo sát xếp hạng mức độ phát triển CPĐT của Liên Hợp Quốc năm 2020, chỉ số Tham gia trực tuyến (E-participation) của Việt Nam xếp ở vị trí số 70/193, tăng 2 bậc so với năm 2018 và xếp ở mức cao.

DVCTT có bước tiến vượt bậc về số lượng và hiệu quả

Từ năm 2020, thực hiện Nghị quyết số 17/NQ-CP của Chính phủ, Bộ TT&TT đã có nhiều văn bản hướng dẫn các bộ, ngành, địa phương đã đẩy mạnh triển khai cung cấp DVCTT mức độ 4 để phục vụ người dân, DN và đã đạt được mục tiêu cung cấp tối thiểu 30% DVCTT mức độ 4 vào năm 2020 nêu tại Nghị quyết số 17/NQ-CP. Cụ thể, tính Quý 3/2021, tỉ lệ DVCTT mức độ 3,4 của cả nước đạt 68,20%; trong đó tỉ lệ DVCTT mức độ 3 là 19,93%, tỉ lệ DVCTT mức độ 4 là 48,27%, trong đó tỉ lệ DVCTT mức 4, trung bình cả nước tăng gấp 4,5 lần so năm 2019 và gấp 1,5 lần so với năm 2020. 

Bên cạnh đó, thành công ban đầu của Cổng DVC quốc gia là một ví dụ điển hình đối với việc tạo thuận lợi để người dân, DN tham gia sử dụng DVCTT.

Xét về hiệu quả cung cấp DVCTT, tính từ thời điểm dịch bệnh COVID-19 diễn ra, tỉ lệ DVCTT có phát sinh hồ sơ trực tuyến tăng nhanh khoảng 2,6 lần (năm 2019 là 14,63%; năm 11/2021 là 36,47%). Một số lĩnh vực có hiệu quả cao như thuế (99,8% DN khai thuế điện tử), hải quan (99,7% DN thực hiện hải quan điện tử), DVCTT về chi Ngân sách nhà nước tại hệ thống Kho bạc Nhà nước đạt 100% số đơn vị sử dụng ngân sách (trừ khối an ninh quốc phòng) và đạt 98% giao dịch chi Ngân sách Nhà nước được thực hiện trực tuyến. 

Một số bộ, tỉnh đã triển khai đồng loạt các DVC trên một nền tảng thống nhất với các chức năng, thành phần dùng chung, đáp ứng các yêu cầu về chia sẻ, đồng bộ dữ liệu để cung cấp 100% dịch vụ công đủ điều kiện lên trực tuyến mức độ 4. Tiêu biểu như: Bộ Y tế, Bộ TT&TT, Bảo hiểm Xã hội Việt Nam, Bộ Công Thương,.. các tỉnh, thành phố: Bình Dương, Đà Nẵng, Lào Cai, Nam Định, Ninh Thuận, Quảng Ninh, Thái Nguyên, Tây Ninh,... 

Tỉ lệ cung cấp DVCTT mức độ 4 (từ 2019 đến quý 3/2011)

Đến nay, 100% bộ, ngành, địa phương đã có Cổng DVC, Hệ thống một cửa điện tử cấp bộ, cấp tỉnh để tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính, cung cấp DVCTT và từng bước tích hợp dịch vụ lên Cổng DVC Quốc gia.

Những năm qua, với vai trò là đầu mối giúp Chính phủ tổng hợp, đánh giá, hướng dẫn các đơn vị thực hiện nhiệm vụ CĐS quốc gia toàn diện, Bộ TT&TT đã ban hành nhiều văn bản, hướng dẫn các đơn vị thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ này. Đặc biệt từ đầu năm 2021 đến nay, Bộ TT&TT ban hành nhiều văn thực hiện hiệu quả nhiệm vụ cung cấp dịch vụ công đủ điều kiện lên trực tuyến mức độ 4 như các văn bản số 1144/BTTTT-THH, 1145/BTTTT-THH, 2626/BTTTT-THH.... 

Bên cạnh việc ban hành các văn bản, Bộ TT&TT đưa ra các khuyến nghị, giải pháp kỹ thuật, công nghệ cho các đơn vị, muốn đẩy nhanh quá trình triển khai nhiệm vụ này, cần sử dụng triệt để các giải pháp công nghệ nhằm triển khai thành công DVCTT. Bên cạnh đó, cần tăng cường công tác truyền thông và quảng bá hiệu quả về DVCTT để người dân, DN hiểu rõ hơn về lợi ích mang lại từ việc sử dụng DVCTT. Đặc biệt, địa phương cần chú trọng đổi mới nội dung và hình thức tuyên truyền phải được thực hiện đồng bộ theo một chương trình tuyên truyền và phù hợp với từng đối tượng thụ hưởng.

Năm 2021, dịch bệnh COVID-19 tái bùng phát đã làm thay đổi dần thói quen sinh hoạt, giao dịch của người dân. Do dịch bệnh, giãn cách xã hội, hạn chế tiếp xúc, người dân đã được hướng dẫn kỹ về cách sử dụng DVCTT. Các tỉnh, thành phố có tình hình dịch COVID-19 phức tạp cũng đã thông báo tạm dừng giao dịch trực tiếp tại các bộ phận hành chính. Một số địa phương như: Bắc Giang, Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu, TP. Đà Nẵng, Khánh Hòa, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Thanh Hóa, Thừa Thiên Huế, Vĩnh Long... đã có văn bản yêu cầu tạm dừng giao dịch trực tiếp tại Bộ phận Một cửa tại các khu vực cách ly xã hội và khuyến khích người dân, DN sử dụng DVCTT trên Cổng DVC quốc gia, Cổng dịch vụ công tỉnh hoặc dịch vụ bưu chính công ích thông qua hệ thống Bưu điện để nộp hồ sơ và nhận kết quả giải quyết thủ tục hành chính (TTHC) tại nhà. 

Để khuyến khích, hỗ trợ, tạo mọi điều kiện cho mọi người dân khi tham gia thực hiện các TTHC trên môi trường mạng, TP. Hồ Chí Minh giảm 50% lệ phí DVCTT mức độ 3 và 4 đối với 06 loại lệ phí dịch vụ: đăng ký cư trú; hộ tịch; cấp giấy phép lao động cho người lao động nước ngoài tại Việt Nam; đăng ký kinh doanh; cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà, tài sản gắn liền với đất và cấp giấy xây dựng.

Các tỉnh, thành phố cũng đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó tập trung thực hiện cơ chế một cửa liên thông giữa sở, ban, ngành, UBND các cấp, các cơ quan thuộc ngành dọc đóng trên địa bàn tỉnh, thành phố trong giải quyết TTHC. Việc ban hành các giải pháp đã giúp người dân tỉnh, thành phố ngày càng tích cực tham gia sử dụng các DVCTT, đồng thời cùng đồng hành với các cấp chính quyền tỉnh, thành phố thực hiện tốt chương trình cải cách TTHC.

Việc cung cấp thông tin và DVCTT đã mang lại hiệu quả cao. Thông tin đầy đủ đã giúp người dân hiểu rõ các hoạt động của CQNN, của chính quyền tạo sự tin tưởng; DVCTT nâng cao chất lượng phục vụ người dân, giúp người dân tiết kiệm chi phí, giúp CQNN hoạt động hiệu quả hơn.

Cần tiếp tục hoàn thiện, phát triển để hội nhập quốc tế

Mặc dù việc cung cấp thông tin và DVCTT đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, tuy nhiên công việc này vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế cần được quan tâm giải quyết triệt để hội nhập quốc tế, tạo đà cho phát triển Chính phủ số. Cụ thể như sau:

Về cung cấp thông tin

Phương thức cung cấp thông tin cần được cải tiến:

- Giao diện truy cập thông tin trên các trang/cổng TTĐT của nhiều CQNN thiếu tính thân thiện, phức tạp với người dân. Thông tin về cùng một nội dung có khi chưa được cung cấp thống nhất giữa các trang TTĐT khác nhau, đặc biệt là việc cập nhật các quy định, chính sách; 

- Khả năng tương tác hai chiều giữa CQNN với người dân còn hạn chế; người dân thường phải gọi điện đến đường dây nóng, hoặc gửi câu hỏi, kiến nghị đến mục Hỏi & Đáp trên Cổng TTĐT và sau một khoảng thời gian khá lâu mới được trả lời;

- Chức năng giao tiếp trực tuyến với CQNN theo thời gian thực gần như chưa được thực hiện;

- Chưa đa dạng kênh cung cấp thông tin cho người dân và DN; việc truy cập đến trang/cổng TTĐT của CQNN trên thiết bị di động còn rất hạn chế. 

Nội dung quy định về cung cấp thông tin tại Nghị định số 43/2011/NĐ-CP có một số tồn tại, hạn chế, thiếu cập nhật so với các quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật ban hành sau này, như Luật Tiếp cận thông tin, Luật Ngân sách nhà nước, Luật Khoa học và công nghệ,...

Các cổng TTĐT được xây dựng từ trước nên đã có khác biệt so với xu hướng phát triển của quốc tế: Các quy định về trang/cổng TTĐT của CQNN theo Nghị định số 43/2011/NĐ-CP còn chưa phù hợp với cách đánh giá của các tổ chức thế giới. Ví dụ như Báo cáo khảo sát xếp hạng mức độ phát triển CPĐT của Liên Hợp Quốc năm 2020 khi đánh giá Cổng TTĐT của một số thành phố được chọn lựa trên thế giới gồm 80 chỉ số liên quan đến 4 tiêu chí: công nghệ; cung cấp nội dung; cung cấp dịch vụ; sự tham gia và gắn kết.

Ảnh minh hoạ (Nguồn: thaibinh.gov.vnn)

Về cung cấp DVCTT

Việc cung cấp DVCTT của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương vẫn còn nhiều hạn chế, cả về số lượng và chất lượng.

Nguyên nhân của hạn chế trên ngoài vấn đề về công nghệ, một nguyên nhân được coi là mấu chốt là vấn đề quy định về xây dựng DVCTT đã chưa được cập nhật kịp thời theo xu thế phát triển.

Mặc dù môi trường pháp lý cho cung cấp DVCTT tiếp tục được hoàn thiện tại các văn bản quy phạm pháp luật sau này (gồm Nghị định số 107/2021/NĐ-CP ngày 06/12/2021 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 61/2018/NĐ-CP ngày 23/4/2018 của Chính phủ về thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết TTHC; Nghị định số 45/2020/NĐ-CP ngày 08/4/2020 của Chính phủ về thực hiện TTHC trên môi trường điện tử), nhưng đến nay, vẫn chưa có một văn bản quy phạm pháp luật quy định quản lý tổng thể toàn trình, toàn diện việc cung cấp DVCTT; đáp ứng xu thế cung cấp dịch vụ số ngày càng đa dạng về thể loại và thông qua nhiều kênh số khác nhau.

Với sự ra đời từ cách đây 10 năm, đến nay, so với các đòi hỏi thực tế về cung cấp dịch vụ số (bao gồm cả dịch vụ cung cấp thông tin và DVCTT), Nghị định số 43/2011/ NĐ-CP đã chưa bao quát hết được các vấn đề như sau:

- Về kênh cung cấp dịch vụ: Nghị định số 43/2011/NĐ-CP chưa quy định cho việc cung cấp DVCTT qua các kênh số khác như ứng dụng di động, mạng xã hội... Cổng DVC cấp bộ, cấp tỉnh thiếu tính thân thiện, đơn giản cho tất cả các đối tượng người dân (bao gồm cả những người có kỹ năng về CNTT thấp, người khuyết tật...). 

- Về phạm vi nội dung cung cấp DVCTT: quy định trong Nghị định số 43/2011/NĐ-CP mới chỉ tập trung về việc cung cấp dịch vụ hành chính công của CQNN trên môi trường mạng, mà chưa quy định nào về dịch vụ khác, ví dụ như dịch vụ công trong lĩnh vực sự nghiệp, dịch vụ cung cấp thông tin theo yêu cầu, dịch vụ sáng tạo,...

- Về việc chuẩn hóa DVC: Theo Khoản 3, Điều 4 của Nghị định số 43/2011/NĐ-CP thì mỗi dịch vụ hành chính công gắn liền với một TTHC để giải quyết hoàn chỉnh một công việc cụ thể liên quan đến tổ chức, cá nhân. Tuy nhiên, hiện nay chưa chuẩn hóa được nội dung, danh mục dịch vụ công của trên phạm cả nước, nên việc triển khai DVCTT thiếu hiệu quả; khó nhân rộng, sử dụng lại các nền tảng cung cấp DVCTT trong các CQNN; việc thống kê số lượng DVCTT trên quy mô toàn quốc cũng gặp khó khăn, thiếu thống nhất.

- Về xác định mức độ cung cấp DVCTT: Nội dung quy định về tiêu chí, cách thức xác định mức độ DVCTT trong Nghị định số 43/2011/NĐ-CP vẫn còn chưa rõ ràng, nên nhiều bộ, ngành, địa phương hiểu không thống nhất về cách xác định mức độ cung cấp DVCTT.

- Về định danh, xác thực điện tử: Quy định về danh tính số, định danh, xác thực điện tử trong các giao dịch trên môi trường mạng hiện vẫn đang được nghiên cứu, xây dựng để thực hiện thống nhất trên toàn quốc, không chỉ áp dụng trong các giao dịch với CQNN. Hiện một số bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương yêu cầu người dân đăng ký và xác thực bằng tài khoản email để sử dụng, trong khi nhiều người dân không có email (tình trạng chung của đa số người dân ở nông thôn). Khi nộp hồ sơ xong, sau một thời gian khá lâu, người dân mới có thể nhận được thông báo của cơ quan nhà nước về việc tiếp nhận hồ sơ và thường thông báo qua email.

- Về liên thông quy trình thủ tục, dữ liệu: Chưa có quy định về liên thông quy trình, liên thông dữ liệu giữa các CQNN trong quá trình xử lý hồ sơ của người dân, DN; điều này cản trở việc tích hợp, chia sẻ dữ liệu giữa các hệ thống cung cấp DVCTT để giảm thiểu giấy tờ người dân phải cung cấp, hạn chế tình trạng người dân phải cung cấp lặp lại thông tin cho các CQNN. Nhiều khi còn phát sinh một số quy trình xử lý hồ sơ ngoài các quy định hiện hành, như: Yêu cầu nộp đồng thời trực tuyến và trực tiếp cùng 01 hồ sơ trước khi tiếp nhận, xử lý (ví dụ: Cấp lý lịch tư pháp); trả hồ sơ bằng dịch vụ bưu chính ngoài công ích, cán bộ tự trả kết quả hồ sơ tại nhà; thanh toán phí, lệ phí thủ tục hành chính qua dịch vụ bưu chính công ích... 

- Về sự tham gia của các tổ chức ngoài nhà nước cung cấp DVC: Chưa có cơ chế, quy định rõ ràng, tạo điều kiện cho DN tham gia sâu vào quá trình cung cấp DVCTT (hiện nay mới chỉ được tham gia một số bước trong quy trình, như nhận hồ sơ, trả kết quả, thanh toán trực tuyến). Chính vì vậy, chưa thu hút được nguồn lực xã hội để cung cấp dịch vụ đa dạng, chất lượng cao tới người dân và DN.

- Về cơ chế khuyến khích sử dụng DVCTT: Chưa có chính sách khuyến khích, tạo điều kiện cho người dân sử dụng DVCTT (Ví dụ như: chính sách cung cấp thiết bị CNTT cho người dân; chính sách ưu tiên về thời gian xử lý thủ tục, chi phí thực hiện dịch vụ qua môi trường số...).

Bên cạnh các vấn đề trên, quy định về DVCTT theo Nghị định 43/2011/NĐ-CP đã chưa sửa đổi kịp thời theo xu hướng quốc tế. Mặc dù theo đánh giá của Liên Hợp Quốc năm 2020, chỉ số Dịch vụ trực tuyến (OSI - Online Service Index) của Việt Nam được xếp ở mức cao, tuy nhiên, đánh giá DVCTT Việt Nam thì có một số tiêu chí chưa đồng bộ hoặc còn thiếu so với yêu cầu của Liên Hợp Quốc.

Cụ thể như sau:

- Việc phân chia mức độ DVCTT, kênh cung cấp DVCTT, tính năng DVCTT (như sử dụng ứng dụng di động, mạng xã hội, hỗ trợ xác thực danh tính số,...); các yêu cầu kỹ thuật về cung cấp DVCTT tại Nghị định số 43/2011/NĐ-CP còn thiếu hoặc chưa đồng bộ với quy định mới của quốc tế. 

- Một số nước có xếp hạng cao về chỉ số DVCTT theo Báo cáo khảo sát xếp hạng mức độ phát triển CPĐT của Liên Hợp Quốc năm 2020 (như Singapore, xếp hạng 5/193; Anh, xếp hạng 6/19; Úc, xếp hạng 7/193; Ấn Độ, xếp hạng 24/193) đã ban hành chính sách, tiêu chuẩn, hướng dẫn kỹ thuật về dịch vụ số do các cơ quan công quyền cung cấp nhằm mục đích tăng khả năng linh hoạt, nhanh chóng cung cấp dịch vụ mới, cho phép sự tham gia nhiều hơn của người dân, DN. Trong khi Việt Nam vẫn chưa có hướng dẫn về các yêu cầu kỹ thuật khi thiết kế, triển khai, cung cấp, giám sát tự động... cho các dịch vụ số của CQNN.

Bàn luận và kiến nghị

Sau 10 năm thực hiện Nghị định số 43/2011/NĐ- CP, việc cung cấp thông tin và DVCTT của cơ quan nhà nước đã đạt được một số kết quả quan trọng, góp phần tiết kiệm thời gian, chi phí, làm cho hoạt động của các CQNN minh bạch, hiệu quả hơn; góp phần phòng, chống tham nhũng, thực hiện cải cách hành chính toàn diện. Tuy nhiên, việc cung cấp thông tin và DVCTT vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế, trong cả thực tế triển khai và môi trường pháp lý.

Để đẩy mạnh việc cung cấp hiệu quả DVCTT, việc nghiên cứu bổ sung, cập nhật các văn bản quy phạm pháp luật về cung cấp thông tin và DVCTT là cần thiết để bảo đảm dữ liệu số, dịch vụ số được tối ưu hóa, phù hợp với thông lệ quốc tế để hướng Chính phủ số hội nhập. Trong đó, quy định quản lý tổng thể toàn trình, toàn diện việc cung cấp DVCTT là điểm mấu chốt cần được quan tâm triển khai.

Nhằm quản lý được toàn trình, toàn diện, cần bổ sung quy định cụ thể toàn bộ các bước trong quy trình dịch vụ (tiêu biểu gồm các bước: nộp hồ sơ; tiếp nhận hồ sơ; giải quyết hồ sơ; trả kết quả tới người dân, DN); quy định được các yếu tố, điều kiện để thực thi các bước trong quy trình dịch vụ, bao gồm cả các quy định về mặt kỹ thuật (Ví dụ như: các yêu cầu về kỹ thuật khi thiết kế, triển khai, cung cấp, giám sát tự động,...).

Cùng với đó, nhằm đáp ứng xu thế cung cấp dịch vụ số ngày càng đa dạng về thể loại và thông qua nhiều kênh số khác nhau, cũng cần quy định thêm các loại hình dịch vụ số mà cơ quan nhà nước cung cấp (ngoài các dịch vụ hành chính công), quy định thêm các kênh số để cung cấp dịch vụ nhanh chóng, thuận tiện, cá thể hóa theo nhu cầu, mọi lúc, mọi nơi, qua nhiều thiết bị (ngoài việc cung cấp qua Cổng DVC).

Từ năm 2020, Liên Hợp Quốc xác định là năm khởi đầu của thập kỷ 20 và Chính phủ số là giải pháp quan trọng nhằm cụ thể hóa Mục tiêu phát triển bền vững đặt ra đến năm 2030. Việc đẩy mạnh việc cung cấp hiệu quả DVCTT (một trong 3 trụ cột của Chính phủ số theo đánh giá của Liên Hợp Quốc) với mục tiêu cung cấp 100% dịch vụ công đủ điều kiện lên trực tuyến mức độ 4 và hoàn thiện thể chế về cung cấp DVCTT là bước đà quan trọng cho việc phát triển CPĐT hướng tới Chính phủ số của Việt Nam.

(Bài đăng ấn phẩm in Tạp chí TT&TT số 12 tháng 12/2021)


Câu hỏi liên quan đến chủ đề Đẩy mạnh triển khai dịch vụ công trực tuyến – bước đà phát triển CPĐT tới chính phủ số

Tìm kiếm liên quan đến chủ đề Đẩy mạnh triển khai dịch vụ công trực tuyến – bước đà phát triển CPĐT tới chính phủ số

Hình ảnh liên quan đến chủ đề Đẩy mạnh triển khai dịch vụ công trực tuyến – bước đà phát triển CPĐT tới chính phủ số

#Đẩy #mạnh #triển #khai #dịch #vụ #công #trực #tuyến #bước #đà #phát #triển #CPĐT #tới #chính #phủ #số

[rule_3_plain]

#Đẩy #mạnh #triển #khai #dịch #vụ #công #trực #tuyến #bước #đà #phát #triển #CPĐT #tới #chính #phủ #số

[rule_1_plain]

#Đẩy #mạnh #triển #khai #dịch #vụ #công #trực #tuyến #bước #đà #phát #triển #CPĐT #tới #chính #phủ #số

[rule_2_plain]

#Đẩy #mạnh #triển #khai #dịch #vụ #công #trực #tuyến #bước #đà #phát #triển #CPĐT #tới #chính #phủ #số

[rule_2_plain]

#Đẩy #mạnh #triển #khai #dịch #vụ #công #trực #tuyến #bước #đà #phát #triển #CPĐT #tới #chính #phủ #số

[rule_3_plain]

#Đẩy #mạnh #triển #khai #dịch #vụ #công #trực #tuyến #bước #đà #phát #triển #CPĐT #tới #chính #phủ #số

[rule_1_plain]

Nguồn: hubm.edu.vn

#Đẩy #mạnh #triển #khai #dịch #vụ #công #trực #tuyến #bước #đà #phát #triển #CPĐT #tới #chính #phủ #số

ĐH KD & CN Hà Nội

Trường Đại học Quản lý và Kinh doanh Hà nội là một trường dân lập, thuộc Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam, được phép thành lập theo Quyết định số 405/TTg, ngày 15/6/1996 của Thủ tướng Chính phủ. Trường chịu sự quản lý Nhà nước của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Hệ thống văn bằng của Trường nằm trong hệ thống văn bằng quốc gia. Ngày 15/09/2006 Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định số 750/QĐ-TTg về việc đổi tên trường thành Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button