Tổng Hợp

Hiện tượng tha hóa con người và vấn đề giải phóng con người

(Cập nhật lần cuối vào: 28/08/2022 bởi Lytuong.net)

Thực chất của hiện tượng tha hoá con người là tha hoá sức lao động của con người

Theo C. Mác, thực chất của lao động bị tha hoá là quá trình lao động và sản phẩm của lao động từ chỗ để phục vụ con người, để phát triển con người đã bị biến thành lực lượng chống đối, nô dịch và thống trị con người. Người lao động chỉ hành động với tính cách con người khi thực hiện các chức năng sinh học như ăn, ngủ, sinh con, … nhưng khi làm việc, nghĩa là khi thực hiện các chức năng cao quý của con người thì không. giống như một con vật.

Theo quan điểm của những người sáng lập chủ nghĩa Mác, hiện tượng con người bị tha hóa là một hiện tượng lịch sử đặc thù, chỉ xảy ra trong xã hội có phân chia giai cấp. Nguyên nhân của sự tha hoá của con người là quyền sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất. Nhưng sự tha hóa của con người được đẩy lên mức cao nhất trong xã hội tư bản. Chế độ đó đã tạo ra sự phân công xã hội về sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, làm cho đại bộ phận công nhân trở thành vô sản, một số ít trở thành tư sản, chiếm hữu mọi tư liệu sản xuất. Thuộc về xã hội. Vì vậy, giai cấp vô sản buộc phải làm việc cho giai cấp tư sản, phải bị giai cấp tư sản bóc lột và từ đó bắt đầu xuất hiện tình trạng tha hóa sức lao động. Xa lánh lao động là nội dung, nguyên nhân và bản chất chủ yếu của sự tha hoá con người.

Một người bị xa lánh là một người đã đánh mất chính mình trong công việc, tức là trong các hoạt động đặc trưng của mình, bản chất của mình. Lao động là hoạt động sáng tạo của con người, là đặc điểm chỉ có ở người mà không có ở động vật, là hoạt động của con người, nhưng khi khỉ lao động thì trở thành hoạt động của động vật. Lao động bị cưỡng bức, bị ép buộc bởi điều kiện xã hội. Con người lao động không phải để tạo ra, không phải để phát triển những phẩm chất của con người, mà chỉ để đảm bảo sự tồn tại của cơ thể họ. Điều đó có nghĩa là chúng đang thực hiện chức năng của động vật. Khi họ ăn, uống, sinh con, họ là con người vì họ được tự do. Sự mâu thuẫn chức năng như vậy là biểu hiện đầu tiên của sự tha hoá con người.

Trong hoạt động lao động, con người là chủ thể trong mối quan hệ với tư liệu sản xuất. Nhưng vì trong chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất, nên người lao động phải phụ thuộc vào tư liệu sản xuất. Tư liệu sản xuất là do con người tạo ra. Như vậy, con người đang phụ thuộc vào sản phẩm do chính họ tạo ra. Mặt khác, để có tư liệu sinh sống, người lao động buộc phải làm việc cho nhà tư bản, sản phẩm của họ trở nên xa lạ với họ và bị chủ sử dụng để trói buộc họ và làm cho họ bị lệ thuộc. nhiều hơn về chủ sở hữu và các mục lao động. Sự xa lánh lao động đã làm đảo lộn các mối quan hệ xã hội của người lao động. Đồ vật đã trở thành xa lạ, trở thành công cụ thống trị và ràng buộc con người. Mối quan hệ giữa người lao động và người sở hữu tư liệu sản xuất cũng bị đảo ngược. Lẽ ra đây là mối quan hệ giữa người với người, nhưng trên thực tế nó được thực hiện thông qua số lượng sản phẩm được sản xuất bởi công nhân và số tiền mà công nhân được trả. Mối quan hệ giữa con người với con người đã được thay thế bằng mối quan hệ giữa con người với sự vật. Đó là biểu hiện thứ hai của sự tha hóa.

Khi lao động bị xa lánh, con người trở nên què quặt, phiến diện, thiếu thốn về nhiều mặt khác nhau. Sự tha hoá nói trên tất yếu làm cho sự phát triển của con người không thể toàn diện, không hoàn thiện, không phát huy được sức mạnh của bản chất con người. Người lao động ngày càng bị bần cùng hóa, sự phân cực xã hội ngày càng tăng. Khi sản xuất, công nghiệp, khoa học kỹ thuật phát triển thì lợi nhuận của người sở hữu tư liệu sản xuất càng lớn, người lao động được thay thế bằng máy móc. Quá trình lao động càng trở thành quá trình thực hiện các thao tác giản đơn do dây chuyền công nghệ kỹ thuật quy định, người lao động càng bị đẩy ra khỏi quá trình sản xuất trực tiếp thì lao động càng bị xa lánh. người công nhân trở thành một bộ phận của máy móc và càng lệ thuộc nhiều vào nó thì sức lao động càng trở nên “man rợ”. Trong bối cảnh cuộc cách mạng khoa học – công nghệ và toàn cầu hóa hiện nay, khía cạnh tha hóa lao động này ngày càng được chú trọng và rõ nét, làm cho khoảng cách giàu nghèo trong xã hội hiện đại ngày càng được nới rộng. mở rộng theo hướng tỷ lệ thuận với sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học – công nghệ và toàn cầu hóa.

Sự tha hoá của con người là thuộc tính cố hữu của nền sản xuất trên cơ sở sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, nhưng nó được đẩy lên mức cao nhất trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa. Trong nền sản xuất đó, sự tha hoá về sức lao động còn do sự tha hoá về các mặt khác của đời sống xã hội: tha hoá về chính trị vì thiểu số ích kỷ, tha hoá về tư bản. hệ tư tưởng của giai cấp thống trị, sự tha hóa của các thiết chế xã hội khác. Vì vậy, khắc phục tha hoá không chỉ gắn liền với xoá bỏ tư hữu tư bản, mà còn khắc phục tha hoá trên các kênh của đời sống xã hội. Để giải phóng con người, giải phóng sức lao động là một quá trình lâu dài và phức tạp.

“Giải phóng vĩnh viễn toàn bộ xã hội khỏi ách bóc lột và áp bức”

Đây là một trong những tư tưởng cơ bản, cốt lõi của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lê-nin về con người. Sự nghiệp giải phóng con người đã được các nhà kinh điển phát triển trên nhiều nội dung lý luận và trên nhiều phương diện khác nhau. Đấu tranh giai cấp thay thế chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất và phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, nhằm giải phóng con người về mặt chính trị là nội dung quan trọng hàng đầu. Khắc phục sự tha hoá của con người và sức lao động của họ, biến lao động sáng tạo thành một chức năng thực sự của con người là một nội dung then chốt.

“Xã hội không thể tự giải phóng chính nó, nếu không giải phóng từng cá nhân riêng biệt.” Theo các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, giải phóng con người cụ thể là giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng toàn nhân loại. Giải phóng con người được quan niệm một cách toàn diện, đầy đủ về mọi mặt và nội dung của con người, cộng đồng, xã hội và con người với tư cách là chủ thể ở các cấp độ khác nhau. . Mục tiêu cuối cùng của tư tưởng Mác – Lê-nin về con người là giải phóng con người về mọi mặt, mọi mặt: con người cá nhân, con người giai cấp, con người quốc gia, con người,…

Tư tưởng giải phóng con người trong triết học Mác – Lênin hoàn toàn khác với tư tưởng giải phóng con người của các học thuyết khác đã có trong lịch sử. Tôn giáo tin rằng sự giải thoát của con người là sự giải thoát khỏi cuộc sống tạm bợ, khỏi những đau khổ của cuộc đời, đến Niết bàn hay Thiên đường trong kiếp sau. Một số học thuyết triết học duy vật cũng đã đề xuất tư tưởng giải phóng con người bằng những phương tiện nhất định trong đời sống xã hội: pháp luật, đạo đức, chính trị. Tính phiến diện, hẹp hòi, siêu hình trong nhận thức về con người và quan hệ xã hội và do hạn chế của điều kiện lịch sử đã làm cho những quan điểm đó rơi vào lập trường duy tâm, siêu hình.

“Bất kỳ sự giải phóng nào cũng ngụ ý rằng nó trả lại thế giới con người, các mối quan hệ giữa con người với cơ thể con người”, là “giải phóng người lao động khỏi lao động bị xa lánh”. Tư tưởng đó thể hiện chính xác thực chất giải phóng con người, thể hiện lập trường duy vật biện chứng, khách quan và khoa học trong nhận thức nguồn gốc, bản chất, sự sống của con người và phương thức giải phóng. Mọi người.

“Sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người.”

Khi chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa bị xóa bỏ, sức lao động không còn bị tha hóa, con người được giải phóng, thì xã hội là sự liên hiệp của các cá nhân, con người bắt đầu phát triển một cách tự phát. làm. Con người là sự thống nhất giữa cá nhân với xã hội, cá nhân với giai cấp, dân tộc và loài người, bản chất con người là tổng hòa các quan hệ xã hội. Vì vậy, sự phát triển tự do của mỗi người nhất thiết phải là điều kiện cho sự phát triển tự do của mọi người. Tất nhiên, điều đó cũng có nghĩa là sự phát triển tự do của tất cả mọi người, sự phát triển của xã hội là tiền đề cho sự phát triển của mỗi cá nhân trong đó. Sự phát triển tự do của mỗi người chỉ có thể đạt được khi mọi người không bị xa lánh, thoát khỏi ách nô dịch do tư hữu về tư liệu sản xuất gây ra, khi sự khác biệt giữa các thành phố và thị trấn bị xóa bỏ hoàn toàn. và nông thôn, giữa lao động trí óc và lao động chân tay không còn nữa, khi con người không còn bị ràng buộc bởi sự phân công lao động xã hội.

Những tư tưởng về con người trong triết học Mác nêu trên là những tư tưởng cơ bản, đóng vai trò là “kim chỉ nam”, cơ sở lý luận khoa học, định hướng cho hoạt động chính trị. , xã hội văn hóa và tư tưởng hơn hai thế kỷ qua. Những tư tưởng này cũng là tiền đề lý luận và phương pháp luận đúng đắn cho sự phát triển của khoa học xã hội. Ngày nay, chúng tiếp tục là cơ sở và tiền đề cho các quan điểm và lý thuyết về trẻ em
con người và xã hội, các khoa học hiện đại về con người nói chung.

Lý luận về con người của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác – Lê-nin là lý luận duy vật biện chứng có tính khoa học và cách mạng triệt để, góp phần tạo nên cuộc cách mạng trong lịch sử tư tưởng nhân loại. Lý luận đó ngày càng được khẳng định là đúng đắn, khoa học trong bối cảnh hiện nay và tiếp tục là “kim chỉ nam” cho hành động, nền tảng lý luận cho sự nghiệp nghiên cứu, giải phóng và phát triển con người. con người trong thực tế.

Xem thêm thông tin chi tiết về Hiện tượng tha hóa con người và vấn đề giải phóng con người

Hình Ảnh về Hiện tượng tha hóa con người và vấn đề giải phóng con người

Video về Hiện tượng tha hóa con người và vấn đề giải phóng con người

Wiki về Hiện tượng tha hóa con người và vấn đề giải phóng con người

Hiện tượng tha hóa con người và vấn đề giải phóng con người

Hiện tượng tha hóa con người và vấn đề giải phóng con người -

(Cập nhật lần cuối vào: 28/08/2022 bởi Lytuong.net)

Thực chất của hiện tượng tha hoá con người là tha hoá sức lao động của con người

Theo C. Mác, thực chất của lao động bị tha hoá là quá trình lao động và sản phẩm của lao động từ chỗ để phục vụ con người, để phát triển con người đã bị biến thành lực lượng chống đối, nô dịch và thống trị con người. Người lao động chỉ hành động với tính cách con người khi thực hiện các chức năng sinh học như ăn, ngủ, sinh con, ... nhưng khi làm việc, nghĩa là khi thực hiện các chức năng cao quý của con người thì không. giống như một con vật.

Theo quan điểm của những người sáng lập chủ nghĩa Mác, hiện tượng con người bị tha hóa là một hiện tượng lịch sử đặc thù, chỉ xảy ra trong xã hội có phân chia giai cấp. Nguyên nhân của sự tha hoá của con người là quyền sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất. Nhưng sự tha hóa của con người được đẩy lên mức cao nhất trong xã hội tư bản. Chế độ đó đã tạo ra sự phân công xã hội về sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, làm cho đại bộ phận công nhân trở thành vô sản, một số ít trở thành tư sản, chiếm hữu mọi tư liệu sản xuất. Thuộc về xã hội. Vì vậy, giai cấp vô sản buộc phải làm việc cho giai cấp tư sản, phải bị giai cấp tư sản bóc lột và từ đó bắt đầu xuất hiện tình trạng tha hóa sức lao động. Xa lánh lao động là nội dung, nguyên nhân và bản chất chủ yếu của sự tha hoá con người.

Một người bị xa lánh là một người đã đánh mất chính mình trong công việc, tức là trong các hoạt động đặc trưng của mình, bản chất của mình. Lao động là hoạt động sáng tạo của con người, là đặc điểm chỉ có ở người mà không có ở động vật, là hoạt động của con người, nhưng khi khỉ lao động thì trở thành hoạt động của động vật. Lao động bị cưỡng bức, bị ép buộc bởi điều kiện xã hội. Con người lao động không phải để tạo ra, không phải để phát triển những phẩm chất của con người, mà chỉ để đảm bảo sự tồn tại của cơ thể họ. Điều đó có nghĩa là chúng đang thực hiện chức năng của động vật. Khi họ ăn, uống, sinh con, họ là con người vì họ được tự do. Sự mâu thuẫn chức năng như vậy là biểu hiện đầu tiên của sự tha hoá con người.

Trong hoạt động lao động, con người là chủ thể trong mối quan hệ với tư liệu sản xuất. Nhưng vì trong chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất, nên người lao động phải phụ thuộc vào tư liệu sản xuất. Tư liệu sản xuất là do con người tạo ra. Như vậy, con người đang phụ thuộc vào sản phẩm do chính họ tạo ra. Mặt khác, để có tư liệu sinh sống, người lao động buộc phải làm việc cho nhà tư bản, sản phẩm của họ trở nên xa lạ với họ và bị chủ sử dụng để trói buộc họ và làm cho họ bị lệ thuộc. nhiều hơn về chủ sở hữu và các mục lao động. Sự xa lánh lao động đã làm đảo lộn các mối quan hệ xã hội của người lao động. Đồ vật đã trở thành xa lạ, trở thành công cụ thống trị và ràng buộc con người. Mối quan hệ giữa người lao động và người sở hữu tư liệu sản xuất cũng bị đảo ngược. Lẽ ra đây là mối quan hệ giữa người với người, nhưng trên thực tế nó được thực hiện thông qua số lượng sản phẩm được sản xuất bởi công nhân và số tiền mà công nhân được trả. Mối quan hệ giữa con người với con người đã được thay thế bằng mối quan hệ giữa con người với sự vật. Đó là biểu hiện thứ hai của sự tha hóa.

Khi lao động bị xa lánh, con người trở nên què quặt, phiến diện, thiếu thốn về nhiều mặt khác nhau. Sự tha hoá nói trên tất yếu làm cho sự phát triển của con người không thể toàn diện, không hoàn thiện, không phát huy được sức mạnh của bản chất con người. Người lao động ngày càng bị bần cùng hóa, sự phân cực xã hội ngày càng tăng. Khi sản xuất, công nghiệp, khoa học kỹ thuật phát triển thì lợi nhuận của người sở hữu tư liệu sản xuất càng lớn, người lao động được thay thế bằng máy móc. Quá trình lao động càng trở thành quá trình thực hiện các thao tác giản đơn do dây chuyền công nghệ kỹ thuật quy định, người lao động càng bị đẩy ra khỏi quá trình sản xuất trực tiếp thì lao động càng bị xa lánh. người công nhân trở thành một bộ phận của máy móc và càng lệ thuộc nhiều vào nó thì sức lao động càng trở nên “man rợ”. Trong bối cảnh cuộc cách mạng khoa học - công nghệ và toàn cầu hóa hiện nay, khía cạnh tha hóa lao động này ngày càng được chú trọng và rõ nét, làm cho khoảng cách giàu nghèo trong xã hội hiện đại ngày càng được nới rộng. mở rộng theo hướng tỷ lệ thuận với sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ và toàn cầu hóa.

Sự tha hoá của con người là thuộc tính cố hữu của nền sản xuất trên cơ sở sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, nhưng nó được đẩy lên mức cao nhất trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa. Trong nền sản xuất đó, sự tha hoá về sức lao động còn do sự tha hoá về các mặt khác của đời sống xã hội: tha hoá về chính trị vì thiểu số ích kỷ, tha hoá về tư bản. hệ tư tưởng của giai cấp thống trị, sự tha hóa của các thiết chế xã hội khác. Vì vậy, khắc phục tha hoá không chỉ gắn liền với xoá bỏ tư hữu tư bản, mà còn khắc phục tha hoá trên các kênh của đời sống xã hội. Để giải phóng con người, giải phóng sức lao động là một quá trình lâu dài và phức tạp.

“Giải phóng vĩnh viễn toàn bộ xã hội khỏi ách bóc lột và áp bức”

Đây là một trong những tư tưởng cơ bản, cốt lõi của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lê-nin về con người. Sự nghiệp giải phóng con người đã được các nhà kinh điển phát triển trên nhiều nội dung lý luận và trên nhiều phương diện khác nhau. Đấu tranh giai cấp thay thế chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất và phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, nhằm giải phóng con người về mặt chính trị là nội dung quan trọng hàng đầu. Khắc phục sự tha hoá của con người và sức lao động của họ, biến lao động sáng tạo thành một chức năng thực sự của con người là một nội dung then chốt.

"Xã hội không thể tự giải phóng chính nó, nếu không giải phóng từng cá nhân riêng biệt." Theo các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, giải phóng con người cụ thể là giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng toàn nhân loại. Giải phóng con người được quan niệm một cách toàn diện, đầy đủ về mọi mặt và nội dung của con người, cộng đồng, xã hội và con người với tư cách là chủ thể ở các cấp độ khác nhau. . Mục tiêu cuối cùng của tư tưởng Mác - Lê-nin về con người là giải phóng con người về mọi mặt, mọi mặt: con người cá nhân, con người giai cấp, con người quốc gia, con người,…

Tư tưởng giải phóng con người trong triết học Mác - Lênin hoàn toàn khác với tư tưởng giải phóng con người của các học thuyết khác đã có trong lịch sử. Tôn giáo tin rằng sự giải thoát của con người là sự giải thoát khỏi cuộc sống tạm bợ, khỏi những đau khổ của cuộc đời, đến Niết bàn hay Thiên đường trong kiếp sau. Một số học thuyết triết học duy vật cũng đã đề xuất tư tưởng giải phóng con người bằng những phương tiện nhất định trong đời sống xã hội: pháp luật, đạo đức, chính trị. Tính phiến diện, hẹp hòi, siêu hình trong nhận thức về con người và quan hệ xã hội và do hạn chế của điều kiện lịch sử đã làm cho những quan điểm đó rơi vào lập trường duy tâm, siêu hình.

“Bất kỳ sự giải phóng nào cũng ngụ ý rằng nó trả lại thế giới con người, các mối quan hệ giữa con người với cơ thể con người”, là “giải phóng người lao động khỏi lao động bị xa lánh”. Tư tưởng đó thể hiện chính xác thực chất giải phóng con người, thể hiện lập trường duy vật biện chứng, khách quan và khoa học trong nhận thức nguồn gốc, bản chất, sự sống của con người và phương thức giải phóng. Mọi người.

"Sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người."

Khi chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa bị xóa bỏ, sức lao động không còn bị tha hóa, con người được giải phóng, thì xã hội là sự liên hiệp của các cá nhân, con người bắt đầu phát triển một cách tự phát. làm. Con người là sự thống nhất giữa cá nhân với xã hội, cá nhân với giai cấp, dân tộc và loài người, bản chất con người là tổng hòa các quan hệ xã hội. Vì vậy, sự phát triển tự do của mỗi người nhất thiết phải là điều kiện cho sự phát triển tự do của mọi người. Tất nhiên, điều đó cũng có nghĩa là sự phát triển tự do của tất cả mọi người, sự phát triển của xã hội là tiền đề cho sự phát triển của mỗi cá nhân trong đó. Sự phát triển tự do của mỗi người chỉ có thể đạt được khi mọi người không bị xa lánh, thoát khỏi ách nô dịch do tư hữu về tư liệu sản xuất gây ra, khi sự khác biệt giữa các thành phố và thị trấn bị xóa bỏ hoàn toàn. và nông thôn, giữa lao động trí óc và lao động chân tay không còn nữa, khi con người không còn bị ràng buộc bởi sự phân công lao động xã hội.

Những tư tưởng về con người trong triết học Mác nêu trên là những tư tưởng cơ bản, đóng vai trò là “kim chỉ nam”, cơ sở lý luận khoa học, định hướng cho hoạt động chính trị. , xã hội văn hóa và tư tưởng hơn hai thế kỷ qua. Những tư tưởng này cũng là tiền đề lý luận và phương pháp luận đúng đắn cho sự phát triển của khoa học xã hội. Ngày nay, chúng tiếp tục là cơ sở và tiền đề cho các quan điểm và lý thuyết về trẻ em
con người và xã hội, các khoa học hiện đại về con người nói chung.

Lý luận về con người của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lê-nin là lý luận duy vật biện chứng có tính khoa học và cách mạng triệt để, góp phần tạo nên cuộc cách mạng trong lịch sử tư tưởng nhân loại. Lý luận đó ngày càng được khẳng định là đúng đắn, khoa học trong bối cảnh hiện nay và tiếp tục là “kim chỉ nam” cho hành động, nền tảng lý luận cho sự nghiệp nghiên cứu, giải phóng và phát triển con người. con người trong thực tế.

[rule_{ruleNumber}]

Bạn thấy bài viết Hiện tượng tha hóa con người và vấn đề giải phóng con người có giải quyết đươc vấn đề bạn tìm hiểu không?, nếu  không hãy comment góp ý thêm về Hiện tượng tha hóa con người và vấn đề giải phóng con người bên dưới để https://hubm.edu.vn/ có thể chỉnh sửa & cải thiện nội dung tốt hơn cho độc giả nhé! Cám ơn bạn đã ghé thăm Website ĐH KD & CN Hà Nội

Nguồn: ĐH KD & CN Hà Nội

#Hiện #tượng #tha #hóa #con #người #và #vấn #đề #giải #phóng #con #người

Xem thêm bài viết hay:  Độc lạ món đặc sản người Thái cần 'rang 4 lửa, giã 10 lần

ĐH KD & CN Hà Nội

Trường Đại học Quản lý và Kinh doanh Hà nội là một trường dân lập, thuộc Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam, được phép thành lập theo Quyết định số 405/TTg, ngày 15/6/1996 của Thủ tướng Chính phủ. Trường chịu sự quản lý Nhà nước của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Hệ thống văn bằng của Trường nằm trong hệ thống văn bằng quốc gia. Ngày 15/09/2006 Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định số 750/QĐ-TTg về việc đổi tên trường thành Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button