Tổng Hợp

Một số lý thuyết cơ bản được tiếp cận trong công tác xã hội

(Cập nhật lần cuối vào: 11/06/2021 bởi Lytuong.net)

1. Hệ thống và cách tiếp cận con người với môi trường

Trong công tác xã hội, mỗi cá nhân được xem như một hệ thống và trong hệ thống lớn hơn đó là gia đình, và gia đình là một phần tử (hệ thống) trong cộng đồng, cộng đồng cũng được coi là một hệ thống bao gồm nhiều thành phần như gia đình, xã hội. các cơ quan như trường học, bệnh viện và nhiều tổ chức khác trong cộng đồng. Lý thuyết hệ thống được sử dụng trong công tác xã hội chú trọng nhiều vào mối quan hệ giữa các hệ thống con như đã đề cập ở trên.

Trong công tác xã hội, từ lâu người ta đã nhấn mạnh rằng mục đích của công tác xã hội là giúp các nhóm mục tiêu phục hồi, duy trì và tăng cường chức năng xã hội thông qua các can thiệp không chỉ nhằm thay đổi cá nhân mà còn thay đổi môi trường và hoàn cảnh mà họ tương tác.

Cá nhân là một trong những đối tượng tác động của nhân viên xã hội. Khi những cá nhân có nhu cầu không được đáp ứng rơi vào hoàn cảnh khó khăn, chức năng xã hội của họ bị suy giảm. Các cá nhân luôn gặp phải các vấn đề trong cuộc sống như vấn đề liên quan đến công việc, học tập, vấn đề liên quan đến các mối quan hệ trong xã hội, sức khỏe, tinh thần… Và nhiều khi họ không thể tự giải quyết được. Để giải quyết vấn đề, họ cần sự giúp đỡ của xã hội.

Con người sống không chỉ cần không khí, nước, thức ăn mà còn cần sự tương tác trong các nhóm xã hội như gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, các tổ chức trong môi trường mình đang sống. Nhu cầu này cũng quan trọng không kém các nhu cầu sinh lý hay vật chất như không khí, nước, và thức ăn. Môi trường xã hội làm cho con người khác với động vật. Chất lượng tương tác của một cá nhân với môi trường xung quanh nói lên rất nhiều điều về chất lượng cuộc sống của một cá nhân cũng như xã hội mà họ tồn tại. Vì vậy, một trong những mục tiêu của công tác xã hội cá nhân là tạo ra sự tương tác tích cực giữa cá nhân với môi trường xã hội, giúp cá nhân và gia đình tiếp cận với các nguồn lực trong cộng đồng, đồng thời thúc đẩy các yếu tố trong môi trường để tạo ra sự tương tác giữa các cá nhân. gia đình, cộng đồng và môi trường.

Môi trường bao gồm ba cấp độ:

  • Cấp độ vi mô bao gồm các mối quan hệ trực tiếp của các cá nhân. Ví dụ, gia đình là nơi một cá nhân sinh ra và lớn lên, có ảnh hưởng trực tiếp; lớp học là nơi các cá nhân tham gia hàng ngày để tiếp thu kiến ​​thức và kỹ năng; Agency là nơi các cá nhân cống hiến sức lao động, sáng tạo để khẳng định mình…
  • Cấp độ giữa bao gồm mối quan hệ giữa gia đình và nhà trường, gây ảnh hưởng trực tiếp đến học sinh, nơi làm việc, công việc của cha mẹ… có thể ảnh hưởng đến thái độ của họ đối với con cái.
  • Cấp độ vĩ mô bao gồm các yếu tố mang tính chất hay quy định của xã hội, cộng đồng có ảnh hưởng đến các cá nhân trong đó như chính sách, văn hóa, tôn giáo, kinh tế, chính trị,… đến đời sống của các thành viên.

Lý thuyết hệ thống là một lý thuyết rất quan trọng trong nền tảng triết học của công tác xã hội nói lên mối quan hệ giữa các hệ thống (tổ chức nhóm) và vai trò của các cá nhân trong môi trường. Lý thuyết này dựa trên giả định rằng mỗi cá nhân đều phụ thuộc vào môi trường và hoàn cảnh sống. Cá nhân và môi trường được coi là một thể thống nhất, trong đó các yếu tố có quan hệ chặt chẽ và phụ thuộc lẫn nhau. Vì vậy, trong công tác xã hội, bất kỳ sự can thiệp, trợ giúp nào đối với một cá nhân của một tổ chức đều có liên quan và ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống.

Do đó, nhân viên xã hội cần hỗ trợ các cá nhân, gia đình và nhóm trong bối cảnh môi trường rộng lớn hơn vì tất cả các yếu tố này đều quan trọng trong việc giúp các cá nhân nâng cao năng lực của họ.

Theo lý thuyết này, tất cả các vấn đề của con người phải được xem xét một cách tổng thể trong mối quan hệ với các yếu tố khác, chứ không chỉ được nhìn nhận và hành động một cách cô lập. Mọi người trong một hoàn cảnh sống đều có những hành động và phản ứng ảnh hưởng lẫn nhau, và một hoạt động can thiệp hoặc giúp đỡ một người sẽ có tác động đến các yếu tố xung quanh. Vì vậy, trong hoạt động công tác xã hội, chúng ta phải nhìn vấn đề cần thay đổi ở nhiều góc độ và nhiều mức độ khác nhau, trong các lĩnh vực cá nhân, gia đình, cộng đồng, xã hội và thế giới. .

2. Cách tiếp cận dựa trên lý thuyết về nhu cầu của con người

Để tồn tại, con người cần được đáp ứng những nhu cầu cơ bản cho cuộc sống như: cơm ăn, áo mặc, nhà ở và chăm sóc y tế…; Để phát triển, con người cần được đáp ứng những nhu cầu cao hơn như: nhu cầu được an toàn, được học hành, được yêu thương, được tôn trọng và khẳng định mình.

Theo thuyết động cơ của A. Maslow, con người là một thực thể tâm lý – xã hội. Vì vậy, con người có nhu cầu cá nhân về cuộc sống (nhu cầu sinh học) và nhu cầu xã hội. Theo đó, ông chia nhu cầu của con người thành 5 cấp độ từ thấp đến cao:

  • Nhu cầu sinh tồn, bao gồm: Nhu cầu về không khí, nước, thức ăn, quần áo, chỗ ở, nghỉ ngơi…
  • Nhu cầu an toàn: Nhà ở, chăm sóc sức khỏe, an ninh
  • Nhu cầu thuộc về một nhóm nào đó: Như có một gia đình, thuộc một nhóm xã hội nào đó
  • Nhu cầu được tôn trọng
  • Nhu cầu hoàn thiện: Học hỏi, phát huy năng lực bản thân.

Khi trợ giúp các nhóm đối tượng, nhân viên xã hội cần xem xét những nhu cầu nào của họ chưa được đáp ứng và họ có thể làm gì để đáp ứng những nhu cầu đó nhằm đảm bảo sự tồn tại và phát triển của cá nhân. .

3. Tiếp cận dựa trên lý thuyết quyền con người

Cách tiếp cận dựa trên quyền con người là một khung lý thuyết thể hiện các nguyên tắc, tiêu chuẩn và mục tiêu của hệ thống quyền con người trong việc lập kế hoạch và thực hiện các hoạt động công tác xã hội.

Cách tiếp cận dựa trên quyền dựa trên hệ thống quyền con người được luật pháp quốc tế bảo vệ. Với cách tiếp cận dựa trên quyền, nhân viên xã hội cần dựa trên hệ thống quyền con người để xây dựng phương pháp và hoạt động của các mô hình phát triển xã hội.

Theo cách tiếp cận này, nhân viên xã hội làm việc để trao quyền cho mọi người thực hiện các quyền của họ đồng thời đảm bảo rằng những người có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ của họ.

Ở cấp độ vĩ mô, cách tiếp cận dựa trên quyền đề cập đến tầm quan trọng của nhà nước và chính phủ trong mối quan hệ với công dân của họ về quyền và nghĩa vụ. .

Giống như các cách tiếp cận khác, cách tiếp cận dựa trên quyền nhằm cải thiện tình hình của người dân, tập trung vào nhu cầu, vấn đề và tiềm năng của họ. Bằng cách này, cách tiếp cận dựa trên quyền giải quyết các vấn đề luôn được coi là sống còn đối với sự phát triển, chẳng hạn như lương thực, nước, nhà ở, y tế, giáo dục, an toàn, tự do. .

Với cách tiếp cận dựa trên quyền, nhân viên xã hội đóng vai trò là người bênh vực, kể cả khi đối tượng đang hoặc chưa nhận thức được quyền của mình. Ví dụ, nhân viên xã hội thực hiện vai trò vận động chính sách trên cơ sở tiếp cận dựa trên quyền trẻ em: Trẻ em có quyền được đi học. Trẻ em bị nhiễm HIV/AIDS hoặc trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS có quyền đến trường như những trẻ em khác.

4. Điểm mạnh và cách tiếp cận dựa trên khả năng phục hồi để giải quyết vấn đề

Quan điểm về điểm mạnh là trong việc giúp khách hàng giải quyết vấn đề, hãy tập trung vào điểm mạnh của họ (nguồn lực cá nhân cũng như nguồn lực của môi trường).

Với cách nhìn này, nhân viên xã hội luôn hướng tới việc xác định các nguồn lực, tiềm năng, thế mạnh của thân chủ và khuyến khích họ thay đổi.

Quan điểm của lý thuyết này như sau:

  • Mỗi cá nhân, nhóm, gia đình và cộng đồng đều có điểm mạnh. Công việc của nhân viên xã hội là giúp thân chủ xác định điểm mạnh và phát triển dựa trên điểm mạnh đó
  • Khó khăn vừa là thách thức vừa là cơ hội
  • Không ai có thể biết chắc chắn giới hạn khả năng trưởng thành, thay đổi và vượt qua khó khăn của mình trong cuộc sống.
  • Mọi người xung quanh và cộng đồng đều chứa đựng một nguồn lực sẵn có và có thể huy động nếu họ sáng tạo và kiên trì.
  • Thân chủ thường biết điều gì hiệu quả và không hiệu quả trong quá trình giải quyết vấn đề. Nhân viên xã hội cố gắng cộng tác với thân chủ và hiện thực hóa các mục tiêu, nguyện vọng và đề xuất về cách tốt nhất để tiến hành.

Một yếu tố khác cần chú ý trong can thiệp là lòng tin vào khả năng phục hồi của thân chủ. Khả năng phục hồi được định nghĩa là khả năng của khách hàng để chịu đựng, vượt qua và thậm chí phát triển sau những trải nghiệm tiêu cực (sau chấn thương, khủng hoảng hoặc các tình huống có vấn đề). Khi giúp đỡ thân chủ, nhân viên xã hội phải luôn tin tưởng rằng họ có khả năng vượt qua khó khăn và phục hồi trở lại trạng thái cũ.

5. Tiếp cận dựa trên lý thuyết phát triển xã hội, phát triển cộng đồng

Ngày nay, tiêu chí đánh giá trình độ phát triển của các quốc gia không đơn thuần dựa vào các yếu tố phát triển kinh tế mà quan trọng hơn là các yếu tố phát triển xã hội và chỉ số phát triển con người. Liên hợp quốc vạch ra ba yếu tố cơ bản liên quan và tác động lẫn nhau của phát triển bền vững: phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường.

Các nhóm chỉ tiêu cơ bản đánh giá sự phát triển của một quốc gia:

  • Nhóm chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế, đặc biệt là thu nhập bình quân đầu người so sánh giữa các vùng.
  • Nhóm chỉ số phát triển xã hội, người dân đặc biệt quan tâm nhiều đến chỉ số dịch vụ xã hội, trong đó có 2 dịch vụ cơ bản nhất là dịch vụ y tế và giáo dục. Chỉ số phát triển con người là chỉ số tổng hợp về phát triển kinh tế – xã hội, bao gồm: thu nhập bình quân đầu người, tuổi thọ trung bình, trình độ học vấn trung bình.
  • Chỉ số phát triển cơ sở hạ tầng (điện, đường, trường, trạm,…)
  • Chỉ số bền vững. Đây là khái niệm chỉ mối quan hệ giữa con người với xã hội và tự nhiên.

Như vậy, để đạt được sự phát triển toàn diện cần có chiến lược và kỹ năng phát triển xã hội, phát triển cộng đồng.

(Lytuong.net – Tài liệu tham khảo: Nhập môn Công tác xã hội, UNICEF, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, Đại học Lao động – Xã hội, 2016)

Xem thêm thông tin chi tiết về Một số lý thuyết cơ bản được tiếp cận trong công tác xã hội

Hình Ảnh về Một số lý thuyết cơ bản được tiếp cận trong công tác xã hội

Video về Một số lý thuyết cơ bản được tiếp cận trong công tác xã hội

Wiki về Một số lý thuyết cơ bản được tiếp cận trong công tác xã hội

Một số lý thuyết cơ bản được tiếp cận trong công tác xã hội

Một số lý thuyết cơ bản được tiếp cận trong công tác xã hội -

(Cập nhật lần cuối vào: 11/06/2021 bởi Lytuong.net)

1. Hệ thống và cách tiếp cận con người với môi trường

Trong công tác xã hội, mỗi cá nhân được xem như một hệ thống và trong hệ thống lớn hơn đó là gia đình, và gia đình là một phần tử (hệ thống) trong cộng đồng, cộng đồng cũng được coi là một hệ thống bao gồm nhiều thành phần như gia đình, xã hội. các cơ quan như trường học, bệnh viện và nhiều tổ chức khác trong cộng đồng. Lý thuyết hệ thống được sử dụng trong công tác xã hội chú trọng nhiều vào mối quan hệ giữa các hệ thống con như đã đề cập ở trên.

Trong công tác xã hội, từ lâu người ta đã nhấn mạnh rằng mục đích của công tác xã hội là giúp các nhóm mục tiêu phục hồi, duy trì và tăng cường chức năng xã hội thông qua các can thiệp không chỉ nhằm thay đổi cá nhân mà còn thay đổi môi trường và hoàn cảnh mà họ tương tác.

Cá nhân là một trong những đối tượng tác động của nhân viên xã hội. Khi những cá nhân có nhu cầu không được đáp ứng rơi vào hoàn cảnh khó khăn, chức năng xã hội của họ bị suy giảm. Các cá nhân luôn gặp phải các vấn đề trong cuộc sống như vấn đề liên quan đến công việc, học tập, vấn đề liên quan đến các mối quan hệ trong xã hội, sức khỏe, tinh thần… Và nhiều khi họ không thể tự giải quyết được. Để giải quyết vấn đề, họ cần sự giúp đỡ của xã hội.

Con người sống không chỉ cần không khí, nước, thức ăn mà còn cần sự tương tác trong các nhóm xã hội như gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, các tổ chức trong môi trường mình đang sống. Nhu cầu này cũng quan trọng không kém các nhu cầu sinh lý hay vật chất như không khí, nước, và thức ăn. Môi trường xã hội làm cho con người khác với động vật. Chất lượng tương tác của một cá nhân với môi trường xung quanh nói lên rất nhiều điều về chất lượng cuộc sống của một cá nhân cũng như xã hội mà họ tồn tại. Vì vậy, một trong những mục tiêu của công tác xã hội cá nhân là tạo ra sự tương tác tích cực giữa cá nhân với môi trường xã hội, giúp cá nhân và gia đình tiếp cận với các nguồn lực trong cộng đồng, đồng thời thúc đẩy các yếu tố trong môi trường để tạo ra sự tương tác giữa các cá nhân. gia đình, cộng đồng và môi trường.

Môi trường bao gồm ba cấp độ:

  • Cấp độ vi mô bao gồm các mối quan hệ trực tiếp của các cá nhân. Ví dụ, gia đình là nơi một cá nhân sinh ra và lớn lên, có ảnh hưởng trực tiếp; lớp học là nơi các cá nhân tham gia hàng ngày để tiếp thu kiến ​​thức và kỹ năng; Agency là nơi các cá nhân cống hiến sức lao động, sáng tạo để khẳng định mình…
  • Cấp độ giữa bao gồm mối quan hệ giữa gia đình và nhà trường, gây ảnh hưởng trực tiếp đến học sinh, nơi làm việc, công việc của cha mẹ… có thể ảnh hưởng đến thái độ của họ đối với con cái.
  • Cấp độ vĩ mô bao gồm các yếu tố mang tính chất hay quy định của xã hội, cộng đồng có ảnh hưởng đến các cá nhân trong đó như chính sách, văn hóa, tôn giáo, kinh tế, chính trị,… đến đời sống của các thành viên.

Lý thuyết hệ thống là một lý thuyết rất quan trọng trong nền tảng triết học của công tác xã hội nói lên mối quan hệ giữa các hệ thống (tổ chức nhóm) và vai trò của các cá nhân trong môi trường. Lý thuyết này dựa trên giả định rằng mỗi cá nhân đều phụ thuộc vào môi trường và hoàn cảnh sống. Cá nhân và môi trường được coi là một thể thống nhất, trong đó các yếu tố có quan hệ chặt chẽ và phụ thuộc lẫn nhau. Vì vậy, trong công tác xã hội, bất kỳ sự can thiệp, trợ giúp nào đối với một cá nhân của một tổ chức đều có liên quan và ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống.

Do đó, nhân viên xã hội cần hỗ trợ các cá nhân, gia đình và nhóm trong bối cảnh môi trường rộng lớn hơn vì tất cả các yếu tố này đều quan trọng trong việc giúp các cá nhân nâng cao năng lực của họ.

Theo lý thuyết này, tất cả các vấn đề của con người phải được xem xét một cách tổng thể trong mối quan hệ với các yếu tố khác, chứ không chỉ được nhìn nhận và hành động một cách cô lập. Mọi người trong một hoàn cảnh sống đều có những hành động và phản ứng ảnh hưởng lẫn nhau, và một hoạt động can thiệp hoặc giúp đỡ một người sẽ có tác động đến các yếu tố xung quanh. Vì vậy, trong hoạt động công tác xã hội, chúng ta phải nhìn vấn đề cần thay đổi ở nhiều góc độ và nhiều mức độ khác nhau, trong các lĩnh vực cá nhân, gia đình, cộng đồng, xã hội và thế giới. .

2. Cách tiếp cận dựa trên lý thuyết về nhu cầu của con người

Để tồn tại, con người cần được đáp ứng những nhu cầu cơ bản cho cuộc sống như: cơm ăn, áo mặc, nhà ở và chăm sóc y tế...; Để phát triển, con người cần được đáp ứng những nhu cầu cao hơn như: nhu cầu được an toàn, được học hành, được yêu thương, được tôn trọng và khẳng định mình.

Theo thuyết động cơ của A. Maslow, con người là một thực thể tâm lý - xã hội. Vì vậy, con người có nhu cầu cá nhân về cuộc sống (nhu cầu sinh học) và nhu cầu xã hội. Theo đó, ông chia nhu cầu của con người thành 5 cấp độ từ thấp đến cao:

  • Nhu cầu sinh tồn, bao gồm: Nhu cầu về không khí, nước, thức ăn, quần áo, chỗ ở, nghỉ ngơi...
  • Nhu cầu an toàn: Nhà ở, chăm sóc sức khỏe, an ninh
  • Nhu cầu thuộc về một nhóm nào đó: Như có một gia đình, thuộc một nhóm xã hội nào đó
  • Nhu cầu được tôn trọng
  • Nhu cầu hoàn thiện: Học hỏi, phát huy năng lực bản thân.

Khi trợ giúp các nhóm đối tượng, nhân viên xã hội cần xem xét những nhu cầu nào của họ chưa được đáp ứng và họ có thể làm gì để đáp ứng những nhu cầu đó nhằm đảm bảo sự tồn tại và phát triển của cá nhân. .

3. Tiếp cận dựa trên lý thuyết quyền con người

Cách tiếp cận dựa trên quyền con người là một khung lý thuyết thể hiện các nguyên tắc, tiêu chuẩn và mục tiêu của hệ thống quyền con người trong việc lập kế hoạch và thực hiện các hoạt động công tác xã hội.

Cách tiếp cận dựa trên quyền dựa trên hệ thống quyền con người được luật pháp quốc tế bảo vệ. Với cách tiếp cận dựa trên quyền, nhân viên xã hội cần dựa trên hệ thống quyền con người để xây dựng phương pháp và hoạt động của các mô hình phát triển xã hội.

Theo cách tiếp cận này, nhân viên xã hội làm việc để trao quyền cho mọi người thực hiện các quyền của họ đồng thời đảm bảo rằng những người có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ của họ.

Ở cấp độ vĩ mô, cách tiếp cận dựa trên quyền đề cập đến tầm quan trọng của nhà nước và chính phủ trong mối quan hệ với công dân của họ về quyền và nghĩa vụ. .

Giống như các cách tiếp cận khác, cách tiếp cận dựa trên quyền nhằm cải thiện tình hình của người dân, tập trung vào nhu cầu, vấn đề và tiềm năng của họ. Bằng cách này, cách tiếp cận dựa trên quyền giải quyết các vấn đề luôn được coi là sống còn đối với sự phát triển, chẳng hạn như lương thực, nước, nhà ở, y tế, giáo dục, an toàn, tự do. .

Với cách tiếp cận dựa trên quyền, nhân viên xã hội đóng vai trò là người bênh vực, kể cả khi đối tượng đang hoặc chưa nhận thức được quyền của mình. Ví dụ, nhân viên xã hội thực hiện vai trò vận động chính sách trên cơ sở tiếp cận dựa trên quyền trẻ em: Trẻ em có quyền được đi học. Trẻ em bị nhiễm HIV/AIDS hoặc trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS có quyền đến trường như những trẻ em khác.

4. Điểm mạnh và cách tiếp cận dựa trên khả năng phục hồi để giải quyết vấn đề

Quan điểm về điểm mạnh là trong việc giúp khách hàng giải quyết vấn đề, hãy tập trung vào điểm mạnh của họ (nguồn lực cá nhân cũng như nguồn lực của môi trường).

Với cách nhìn này, nhân viên xã hội luôn hướng tới việc xác định các nguồn lực, tiềm năng, thế mạnh của thân chủ và khuyến khích họ thay đổi.

Quan điểm của lý thuyết này như sau:

  • Mỗi cá nhân, nhóm, gia đình và cộng đồng đều có điểm mạnh. Công việc của nhân viên xã hội là giúp thân chủ xác định điểm mạnh và phát triển dựa trên điểm mạnh đó
  • Khó khăn vừa là thách thức vừa là cơ hội
  • Không ai có thể biết chắc chắn giới hạn khả năng trưởng thành, thay đổi và vượt qua khó khăn của mình trong cuộc sống.
  • Mọi người xung quanh và cộng đồng đều chứa đựng một nguồn lực sẵn có và có thể huy động nếu họ sáng tạo và kiên trì.
  • Thân chủ thường biết điều gì hiệu quả và không hiệu quả trong quá trình giải quyết vấn đề. Nhân viên xã hội cố gắng cộng tác với thân chủ và hiện thực hóa các mục tiêu, nguyện vọng và đề xuất về cách tốt nhất để tiến hành.

Một yếu tố khác cần chú ý trong can thiệp là lòng tin vào khả năng phục hồi của thân chủ. Khả năng phục hồi được định nghĩa là khả năng của khách hàng để chịu đựng, vượt qua và thậm chí phát triển sau những trải nghiệm tiêu cực (sau chấn thương, khủng hoảng hoặc các tình huống có vấn đề). Khi giúp đỡ thân chủ, nhân viên xã hội phải luôn tin tưởng rằng họ có khả năng vượt qua khó khăn và phục hồi trở lại trạng thái cũ.

5. Tiếp cận dựa trên lý thuyết phát triển xã hội, phát triển cộng đồng

Ngày nay, tiêu chí đánh giá trình độ phát triển của các quốc gia không đơn thuần dựa vào các yếu tố phát triển kinh tế mà quan trọng hơn là các yếu tố phát triển xã hội và chỉ số phát triển con người. Liên hợp quốc vạch ra ba yếu tố cơ bản liên quan và tác động lẫn nhau của phát triển bền vững: phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường.

Các nhóm chỉ tiêu cơ bản đánh giá sự phát triển của một quốc gia:

  • Nhóm chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế, đặc biệt là thu nhập bình quân đầu người so sánh giữa các vùng.
  • Nhóm chỉ số phát triển xã hội, người dân đặc biệt quan tâm nhiều đến chỉ số dịch vụ xã hội, trong đó có 2 dịch vụ cơ bản nhất là dịch vụ y tế và giáo dục. Chỉ số phát triển con người là chỉ số tổng hợp về phát triển kinh tế - xã hội, bao gồm: thu nhập bình quân đầu người, tuổi thọ trung bình, trình độ học vấn trung bình.
  • Chỉ số phát triển cơ sở hạ tầng (điện, đường, trường, trạm,…)
  • Chỉ số bền vững. Đây là khái niệm chỉ mối quan hệ giữa con người với xã hội và tự nhiên.

Như vậy, để đạt được sự phát triển toàn diện cần có chiến lược và kỹ năng phát triển xã hội, phát triển cộng đồng.

(Lytuong.net – Tài liệu tham khảo: Nhập môn Công tác xã hội, UNICEF, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, Đại học Lao động – Xã hội, 2016)

[rule_{ruleNumber}]

Bạn thấy bài viết Một số lý thuyết cơ bản được tiếp cận trong công tác xã hội có giải quyết đươc vấn đề bạn tìm hiểu không?, nếu  không hãy comment góp ý thêm về Một số lý thuyết cơ bản được tiếp cận trong công tác xã hội bên dưới để https://hubm.edu.vn/ có thể chỉnh sửa & cải thiện nội dung tốt hơn cho độc giả nhé! Cám ơn bạn đã ghé thăm Website ĐH KD & CN Hà Nội

Nguồn: ĐH KD & CN Hà Nội

#Một #số #lý #thuyết #cơ #bản #được #tiếp #cận #trong #công #tác #xã #hội

Xem thêm bài viết hay:  Vũ trụ học là gì?

ĐH KD & CN Hà Nội

Trường Đại học Quản lý và Kinh doanh Hà nội là một trường dân lập, thuộc Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam, được phép thành lập theo Quyết định số 405/TTg, ngày 15/6/1996 của Thủ tướng Chính phủ. Trường chịu sự quản lý Nhà nước của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Hệ thống văn bằng của Trường nằm trong hệ thống văn bằng quốc gia. Ngày 15/09/2006 Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định số 750/QĐ-TTg về việc đổi tên trường thành Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button