Giáo Dục

Phân biệt sinh sản vô tính và tái sinh các bộ phận cơ thể

Câu hỏi: Phân biệt sinh sản vô tính và tái tạo bộ phận cơ thể

Câu trả lời:

Sinh sản vô tính là kiểu sinh sản mà một cá thể sinh ra một hoặc nhiều cá thể mới giống hệt mình, không có sự dung hợp giữa tinh trùng và tế bào trứng.

Tái sinh là hiện tượng động vật (thông qua nguyên phân) mọc lại các bộ phận cơ thể đã mất mà không sinh ra các bộ phận mới.

Phân biệt sinh sản vô tính và tái sinh các bộ phận cơ thể

Cùng trường ĐH KD & CN Hà Nội tìm hiểu thêm về sinh sản vô tính và tái sinh ở động vật:

1. Sinh sản vô tính ở động vật

một. Ý tưởng

Sinh sản vô tính là hình thức sinh sản trong đó một cá thể sinh ra một hoặc nhiều cá thể mới, giống hệt nhau, không có sự hợp nhất của tinh trùng và tế bào trứng.

b. Hình thức sinh sản vô tính

– lưỡng tính

+ Cơ thể mẹ tự co lại để tạo thành 2 bộ phận giống nhau, mỗi bộ phận sẽ phát triển thành cá thể.

Sự phân đôi có thể theo chiều dọc, chiều ngang hoặc nhiều chiều.

+ Đại diện: Động vật nguyên sinh, giun dẹp.

+ Ví dụ: Trùng hợp ở biến thái

– Chớm nở

+ Một bộ phận của cơ thể mẹ nguyên phân nhiều hơn những vùng xung quanh và lớn lên để hình thành cơ thể sinh vật mới.

Cơ thể con có thể sống trên cơ thể mẹ hoặc sống độc lập.

+ Đại diện: Ruột khoang, bọt biển.

– Phân mảnh

+ Cơ thể mẹ tách thành nhiều bộ phận nhỏ, mỗi bộ phận phát triển thành cơ thể mới.

+ Đại diện: Sponge.

– Trinh tiết (trinh tiết)

+ Hiện tượng giao tử cái không qua thụ tinh, nguyên phân nhiều lần phát triển thành sinh vật đơn bội (n).

Xem thêm bài viết hay:  Sơ đồ tư duy bài Nhưng nó phải bằng hai mày – Văn 10

Thường xen kẽ với sinh sản hữu tính.

+ Đại diện: Ong, rệp, kiến.

c. Các ứng dụng của sinh sản vô tính

– Nuôi cấy mô sống

+ Trong môi trường có đủ chất dinh dưỡng, vô trùng và nhiệt độ thích hợp giúp mô đó tồn tại và phát triển.

+ Ứng dụng: điều trị bệnh nhân bỏng da, ghép thận.

– Nhân bản vô tính.

+ Chuyển nhân của tế bào xôma (2n) vào tế bào sinh trứng đã mất nhân, rồi kích thích tế bào sinh trứng đó phát triển thành phôi. Phôi thai này tiếp tục phát triển thành một sinh vật mới.

+ Ứng dụng: Trong y học: tạo ra các mô, cơ quan theo ý muốn, từ đó thay thế các mô, cơ quan bị bệnh, bị tổn thương ở người bệnh. Trong nông nghiệp: khắc phục nguy cơ tuyệt chủng một số loài ĐVHD.

2. Tái tạo các bộ phận cơ thể

Trong sinh học, tái sinh hay tự tái sinh là quá trình đổi mới, phục hồi và tăng trưởng làm cho bộ gen, tế bào, sinh vật và hệ sinh thái có khả năng chống chọi với những biến động hoặc thay đổi của tự nhiên. sự kiện gây xáo trộn hoặc thiệt hại.

– Tất cả các loài đều có khả năng tái sinh, từ vi khuẩn sang người.

– Sự tái sinh có thể hoàn tất khi mô mới giống với mô đã mất, hoặc không hoàn toàn ở nơi xảy ra xơ hóa sau khi mô hoại tử.

– Ở mức độ cơ bản nhất của nó, sự tái sinh được thực hiện qua trung gian của các quá trình phân tử của sự điều hòa gen.

Ở cấp độ di truyền, sự tái sinh về cơ bản được quy định bởi các quá trình tế bào vô tính. Tái sinh khác với tái tạo.

Xem thêm bài viết hay:  Điều chế nước gia ven

* Ví dụ:

– Thủy tức có thể tái sinh nhưng sinh sản bằng phương pháp nảy chồi. Các loài thủy sinh và giun dẹp từ lâu đã là hình ảnh thu nhỏ của khả năng tái sinh thích nghi cao của chúng. Sau một chấn thương, các tế bào của chúng sẽ được kích hoạt và phục hồi các cơ quan về trạng thái như trước.

– Các loài Caudata (“urodeles”; kỳ nhông và sa giông), một bộ lưỡng cư có đuôi, có thể là nhóm động vật có xương sống tái sinh sung mãn nhất, với khả năng tái tạo các chi, đuôi, hàm, mắt và một loạt các cấu trúc bên trong. Sự tái sinh các cơ quan là khả năng thích ứng phổ biến và rộng rãi giữa các loài động vật. Trong bối cảnh liên quan, một số động vật có thể sinh sản vô tính thông qua phân mảnh, nảy chồi hoặc phân hạch. Ví dụ, một người mẹ sẽ thu nhỏ lại, tách ra ở giữa và mỗi nửa sẽ tạo ra một kết thúc mới để tạo thành hai bản sao của bản gốc.

– Ecchinoids (như sao biển), tôm càng, nhiều loài bò sát và lưỡng cư là những ví dụ đáng chú ý về khả năng tái tạo mô. Ví dụ, tự động thải bỏ đóng vai trò như một chức năng phòng thủ khi con vật tách rời chi hoặc đuôi để tránh bị bắt. Sau khi chi hoặc đuôi đã được tự động hóa, các tế bào sẽ trở nên hoạt động và các mô sẽ được tái sinh. Trong một số trường hợp, một chi bị mất có thể tự tái sinh thành một cá thể mới. Sự tái tạo chi hạn chế xảy ra ở hầu hết các loài cá và kỳ nhông, và sự tái tạo đuôi xảy ra ở ếch ấu trùng và cóc (nhưng không phải con trưởng thành). Toàn bộ chi của kỳ nhông hoặc triton sẽ mọc trở lại sau khi bị cắt cụt. Ở các loài bò sát, rùa, cá sấu và rắn không thể tái sinh các cơ quan đã mất, nhưng nhiều loài (nhưng không phải tất cả) như thằn lằn, tắc kè và cự đà có khả năng tái sinh ở mức độ cao. . Thông thường, nó liên quan đến việc thả một phần đuôi của chúng và tái tạo nó như một phần của cơ chế tự vệ. Trong khi chạy khỏi kẻ thù, nếu kẻ thù bắt được đuôi của chúng, đuôi sẽ tách ra khỏi cơ thể.

Xem thêm bài viết hay:  Soạn bài Nhớ đồng ngắn gọn nhất – Soạn văn 11

Đăng bởi: Trường ĐH KD & CN Hà Nội

Thể loại: Lớp 11, Sinh 11

Thông tin cần xem thêm:

Hình Ảnh về Phân biệt sinh sản vô tính và tái sinh các bộ phận cơ thể

Video về Phân biệt sinh sản vô tính và tái sinh các bộ phận cơ thể

Wiki về Phân biệt sinh sản vô tính và tái sinh các bộ phận cơ thể

Phân biệt sinh sản vô tính và tái sinh các bộ phận cơ thể

Phân biệt sinh sản vô tính và tái sinh các bộ phận cơ thể -

Câu hỏi: Phân biệt sinh sản vô tính và tái tạo bộ phận cơ thể

Câu trả lời:

Sinh sản vô tính là kiểu sinh sản mà một cá thể sinh ra một hoặc nhiều cá thể mới giống hệt mình, không có sự dung hợp giữa tinh trùng và tế bào trứng.

Tái sinh là hiện tượng động vật (thông qua nguyên phân) mọc lại các bộ phận cơ thể đã mất mà không sinh ra các bộ phận mới.

Phân biệt sinh sản vô tính và tái sinh các bộ phận cơ thể

Cùng trường ĐH KD & CN Hà Nội tìm hiểu thêm về sinh sản vô tính và tái sinh ở động vật:

1. Sinh sản vô tính ở động vật

một. Ý tưởng


Sinh sản vô tính là hình thức sinh sản trong đó một cá thể sinh ra một hoặc nhiều cá thể mới, giống hệt nhau, không có sự hợp nhất của tinh trùng và tế bào trứng.

b. Hình thức sinh sản vô tính

– lưỡng tính

+ Cơ thể mẹ tự co lại để tạo thành 2 bộ phận giống nhau, mỗi bộ phận sẽ phát triển thành cá thể.

Sự phân đôi có thể theo chiều dọc, chiều ngang hoặc nhiều chiều.

+ Đại diện: Động vật nguyên sinh, giun dẹp.

+ Ví dụ: Trùng hợp ở biến thái

– Chớm nở

+ Một bộ phận của cơ thể mẹ nguyên phân nhiều hơn những vùng xung quanh và lớn lên để hình thành cơ thể sinh vật mới.

Cơ thể con có thể sống trên cơ thể mẹ hoặc sống độc lập.

+ Đại diện: Ruột khoang, bọt biển.

– Phân mảnh

+ Cơ thể mẹ tách thành nhiều bộ phận nhỏ, mỗi bộ phận phát triển thành cơ thể mới.

+ Đại diện: Sponge.

– Trinh tiết (trinh tiết)

+ Hiện tượng giao tử cái không qua thụ tinh, nguyên phân nhiều lần phát triển thành sinh vật đơn bội (n).

Thường xen kẽ với sinh sản hữu tính.

+ Đại diện: Ong, rệp, kiến.

c. Các ứng dụng của sinh sản vô tính

– Nuôi cấy mô sống

+ Trong môi trường có đủ chất dinh dưỡng, vô trùng và nhiệt độ thích hợp giúp mô đó tồn tại và phát triển.

+ Ứng dụng: điều trị bệnh nhân bỏng da, ghép thận.

– Nhân bản vô tính.

+ Chuyển nhân của tế bào xôma (2n) vào tế bào sinh trứng đã mất nhân, rồi kích thích tế bào sinh trứng đó phát triển thành phôi. Phôi thai này tiếp tục phát triển thành một sinh vật mới.

+ Ứng dụng: Trong y học: tạo ra các mô, cơ quan theo ý muốn, từ đó thay thế các mô, cơ quan bị bệnh, bị tổn thương ở người bệnh. Trong nông nghiệp: khắc phục nguy cơ tuyệt chủng một số loài ĐVHD.

2. Tái tạo các bộ phận cơ thể

Trong sinh học, tái sinh hay tự tái sinh là quá trình đổi mới, phục hồi và tăng trưởng làm cho bộ gen, tế bào, sinh vật và hệ sinh thái có khả năng chống chọi với những biến động hoặc thay đổi của tự nhiên. sự kiện gây xáo trộn hoặc thiệt hại.

– Tất cả các loài đều có khả năng tái sinh, từ vi khuẩn sang người.

– Sự tái sinh có thể hoàn tất khi mô mới giống với mô đã mất, hoặc không hoàn toàn ở nơi xảy ra xơ hóa sau khi mô hoại tử.

– Ở mức độ cơ bản nhất của nó, sự tái sinh được thực hiện qua trung gian của các quá trình phân tử của sự điều hòa gen.

Ở cấp độ di truyền, sự tái sinh về cơ bản được quy định bởi các quá trình tế bào vô tính. Tái sinh khác với tái tạo.

* Ví dụ:

– Thủy tức có thể tái sinh nhưng sinh sản bằng phương pháp nảy chồi. Các loài thủy sinh và giun dẹp từ lâu đã là hình ảnh thu nhỏ của khả năng tái sinh thích nghi cao của chúng. Sau một chấn thương, các tế bào của chúng sẽ được kích hoạt và phục hồi các cơ quan về trạng thái như trước.

– Các loài Caudata (“urodeles”; kỳ nhông và sa giông), một bộ lưỡng cư có đuôi, có thể là nhóm động vật có xương sống tái sinh sung mãn nhất, với khả năng tái tạo các chi, đuôi, hàm, mắt và một loạt các cấu trúc bên trong. Sự tái sinh các cơ quan là khả năng thích ứng phổ biến và rộng rãi giữa các loài động vật. Trong bối cảnh liên quan, một số động vật có thể sinh sản vô tính thông qua phân mảnh, nảy chồi hoặc phân hạch. Ví dụ, một người mẹ sẽ thu nhỏ lại, tách ra ở giữa và mỗi nửa sẽ tạo ra một kết thúc mới để tạo thành hai bản sao của bản gốc.

– Ecchinoids (như sao biển), tôm càng, nhiều loài bò sát và lưỡng cư là những ví dụ đáng chú ý về khả năng tái tạo mô. Ví dụ, tự động thải bỏ đóng vai trò như một chức năng phòng thủ khi con vật tách rời chi hoặc đuôi để tránh bị bắt. Sau khi chi hoặc đuôi đã được tự động hóa, các tế bào sẽ trở nên hoạt động và các mô sẽ được tái sinh. Trong một số trường hợp, một chi bị mất có thể tự tái sinh thành một cá thể mới. Sự tái tạo chi hạn chế xảy ra ở hầu hết các loài cá và kỳ nhông, và sự tái tạo đuôi xảy ra ở ếch ấu trùng và cóc (nhưng không phải con trưởng thành). Toàn bộ chi của kỳ nhông hoặc triton sẽ mọc trở lại sau khi bị cắt cụt. Ở các loài bò sát, rùa, cá sấu và rắn không thể tái sinh các cơ quan đã mất, nhưng nhiều loài (nhưng không phải tất cả) như thằn lằn, tắc kè và cự đà có khả năng tái sinh ở mức độ cao. . Thông thường, nó liên quan đến việc thả một phần đuôi của chúng và tái tạo nó như một phần của cơ chế tự vệ. Trong khi chạy khỏi kẻ thù, nếu kẻ thù bắt được đuôi của chúng, đuôi sẽ tách ra khỏi cơ thể.

Đăng bởi: Trường ĐH KD & CN Hà Nội

Thể loại: Lớp 11, Sinh 11

 

[rule_{ruleNumber}]

Câu hỏi: Phân biệt sinh sản vô tính và tái tạo bộ phận cơ thể

Câu trả lời:

Sinh sản vô tính là kiểu sinh sản mà một cá thể sinh ra một hoặc nhiều cá thể mới giống hệt mình, không có sự dung hợp giữa tinh trùng và tế bào trứng.

Tái sinh là hiện tượng động vật (thông qua nguyên phân) mọc lại các bộ phận cơ thể đã mất mà không sinh ra các bộ phận mới.

Phân biệt sinh sản vô tính và tái sinh các bộ phận cơ thể

Cùng trường ĐH KD & CN Hà Nội tìm hiểu thêm về sinh sản vô tính và tái sinh ở động vật:

1. Sinh sản vô tính ở động vật

một. Ý tưởng


Sinh sản vô tính là hình thức sinh sản trong đó một cá thể sinh ra một hoặc nhiều cá thể mới, giống hệt nhau, không có sự hợp nhất của tinh trùng và tế bào trứng.

b. Hình thức sinh sản vô tính

– lưỡng tính

+ Cơ thể mẹ tự co lại để tạo thành 2 bộ phận giống nhau, mỗi bộ phận sẽ phát triển thành cá thể.

Sự phân đôi có thể theo chiều dọc, chiều ngang hoặc nhiều chiều.

+ Đại diện: Động vật nguyên sinh, giun dẹp.

+ Ví dụ: Trùng hợp ở biến thái

– Chớm nở

+ Một bộ phận của cơ thể mẹ nguyên phân nhiều hơn những vùng xung quanh và lớn lên để hình thành cơ thể sinh vật mới.

Cơ thể con có thể sống trên cơ thể mẹ hoặc sống độc lập.

+ Đại diện: Ruột khoang, bọt biển.

– Phân mảnh

+ Cơ thể mẹ tách thành nhiều bộ phận nhỏ, mỗi bộ phận phát triển thành cơ thể mới.

+ Đại diện: Sponge.

– Trinh tiết (trinh tiết)

+ Hiện tượng giao tử cái không qua thụ tinh, nguyên phân nhiều lần phát triển thành sinh vật đơn bội (n).

Thường xen kẽ với sinh sản hữu tính.

+ Đại diện: Ong, rệp, kiến.

c. Các ứng dụng của sinh sản vô tính

– Nuôi cấy mô sống

+ Trong môi trường có đủ chất dinh dưỡng, vô trùng và nhiệt độ thích hợp giúp mô đó tồn tại và phát triển.

+ Ứng dụng: điều trị bệnh nhân bỏng da, ghép thận.

– Nhân bản vô tính.

+ Chuyển nhân của tế bào xôma (2n) vào tế bào sinh trứng đã mất nhân, rồi kích thích tế bào sinh trứng đó phát triển thành phôi. Phôi thai này tiếp tục phát triển thành một sinh vật mới.

+ Ứng dụng: Trong y học: tạo ra các mô, cơ quan theo ý muốn, từ đó thay thế các mô, cơ quan bị bệnh, bị tổn thương ở người bệnh. Trong nông nghiệp: khắc phục nguy cơ tuyệt chủng một số loài ĐVHD.

2. Tái tạo các bộ phận cơ thể

Trong sinh học, tái sinh hay tự tái sinh là quá trình đổi mới, phục hồi và tăng trưởng làm cho bộ gen, tế bào, sinh vật và hệ sinh thái có khả năng chống chọi với những biến động hoặc thay đổi của tự nhiên. sự kiện gây xáo trộn hoặc thiệt hại.

– Tất cả các loài đều có khả năng tái sinh, từ vi khuẩn sang người.

– Sự tái sinh có thể hoàn tất khi mô mới giống với mô đã mất, hoặc không hoàn toàn ở nơi xảy ra xơ hóa sau khi mô hoại tử.

– Ở mức độ cơ bản nhất của nó, sự tái sinh được thực hiện qua trung gian của các quá trình phân tử của sự điều hòa gen.

Ở cấp độ di truyền, sự tái sinh về cơ bản được quy định bởi các quá trình tế bào vô tính. Tái sinh khác với tái tạo.

* Ví dụ:

– Thủy tức có thể tái sinh nhưng sinh sản bằng phương pháp nảy chồi. Các loài thủy sinh và giun dẹp từ lâu đã là hình ảnh thu nhỏ của khả năng tái sinh thích nghi cao của chúng. Sau một chấn thương, các tế bào của chúng sẽ được kích hoạt và phục hồi các cơ quan về trạng thái như trước.

– Các loài Caudata (“urodeles”; kỳ nhông và sa giông), một bộ lưỡng cư có đuôi, có thể là nhóm động vật có xương sống tái sinh sung mãn nhất, với khả năng tái tạo các chi, đuôi, hàm, mắt và một loạt các cấu trúc bên trong. Sự tái sinh các cơ quan là khả năng thích ứng phổ biến và rộng rãi giữa các loài động vật. Trong bối cảnh liên quan, một số động vật có thể sinh sản vô tính thông qua phân mảnh, nảy chồi hoặc phân hạch. Ví dụ, một người mẹ sẽ thu nhỏ lại, tách ra ở giữa và mỗi nửa sẽ tạo ra một kết thúc mới để tạo thành hai bản sao của bản gốc.

– Ecchinoids (như sao biển), tôm càng, nhiều loài bò sát và lưỡng cư là những ví dụ đáng chú ý về khả năng tái tạo mô. Ví dụ, tự động thải bỏ đóng vai trò như một chức năng phòng thủ khi con vật tách rời chi hoặc đuôi để tránh bị bắt. Sau khi chi hoặc đuôi đã được tự động hóa, các tế bào sẽ trở nên hoạt động và các mô sẽ được tái sinh. Trong một số trường hợp, một chi bị mất có thể tự tái sinh thành một cá thể mới. Sự tái tạo chi hạn chế xảy ra ở hầu hết các loài cá và kỳ nhông, và sự tái tạo đuôi xảy ra ở ếch ấu trùng và cóc (nhưng không phải con trưởng thành). Toàn bộ chi của kỳ nhông hoặc triton sẽ mọc trở lại sau khi bị cắt cụt. Ở các loài bò sát, rùa, cá sấu và rắn không thể tái sinh các cơ quan đã mất, nhưng nhiều loài (nhưng không phải tất cả) như thằn lằn, tắc kè và cự đà có khả năng tái sinh ở mức độ cao. . Thông thường, nó liên quan đến việc thả một phần đuôi của chúng và tái tạo nó như một phần của cơ chế tự vệ. Trong khi chạy khỏi kẻ thù, nếu kẻ thù bắt được đuôi của chúng, đuôi sẽ tách ra khỏi cơ thể.

Đăng bởi: Trường ĐH KD & CN Hà Nội

Thể loại: Lớp 11, Sinh 11

Bạn thấy bài viết Phân biệt sinh sản vô tính và tái sinh các bộ phận cơ thể có giải quyết đươc vấn đề bạn tìm hiểu không?, nếu  không hãy comment góp ý thêm về Phân biệt sinh sản vô tính và tái sinh các bộ phận cơ thể bên dưới để https://hubm.edu.vn/ có thể chỉnh sửa & cải thiện nội dung tốt hơn cho độc giả nhé! Cám ơn bạn đã ghé thăm Website ĐH KD & CN Hà Nội

Nguồn: hubm.edu.vn

#Phân #biệt #sinh #sản #vô #tính #và #tái #sinh #các #bộ #phận #cơ #thể

ĐH KD & CN Hà Nội

Trường Đại học Quản lý và Kinh doanh Hà nội là một trường dân lập, thuộc Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam, được phép thành lập theo Quyết định số 405/TTg, ngày 15/6/1996 của Thủ tướng Chính phủ. Trường chịu sự quản lý Nhà nước của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Hệ thống văn bằng của Trường nằm trong hệ thống văn bằng quốc gia. Ngày 15/09/2006 Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định số 750/QĐ-TTg về việc đổi tên trường thành Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button