Giáo Dục

Phân tích bài thơ Tỏ lòng – Văn mẫu 10 hay nhất

Phân tích bài thơ Tỏ lòng – Phạm Ngũ Lão

“Thơ như đôi cánh nâng tôi lên”

Thơ là vũ khí trong trận chiến ”.

(Rasun-Gamzatop)

Lịch sử chân chính là vậy, văn học cũng vậy. Trong cuộc đấu tranh giành thắng lợi và xây dựng chủ nghĩa xã hội của dân tộc Việt Nam, văn học đã phản ánh và khơi dậy sức mạnh, niềm tin cho bao thế hệ. Bài thơ “Tỏ lòng” của Phạm Ngũ Lão là lời bày tỏ với bạn bè, với hậu thế, trước hết là với chính mình về tinh thần trách nhiệm của mình đối với Tổ quốc.

Phạm Ngũ Lão từng làm đến chức Điền suy, được ca tụng là người có tài văn võ song toàn. Phạm Ngũ Lão chỉ để lại hai bài thơ (Thuật hoài và Văn tế tướng quốc, Hưng Đạo đại vương ”), nhưng tên tuổi của ông vẫn đứng ngang hàng với những danh nhân bậc nhất của văn học thời Trần. . Hình tượng người anh hùng thời Trần kiên cường, dũng cảm, kiên trung trong hành trình bảo vệ Tổ quốc:

“Sóc bộ dáng.


(Ngọc vũ sông núi trải qua mấy mùa thu) ”

Tầm vóc, tư thế và hành động của anh ta rất to lớn và mạnh mẽ. Sự kỳ vĩ ấy càng thể hiện rõ trong mối quan hệ với không gian và thời gian: không gian mở ra bề ngang của sông núi, thời gian được đo bằng mùa và năm chứ không phải chỉ một khoảnh khắc.

Trong không khí hào hùng của thời đại:

“Ba đội quân hổ và làng bò

(Ba vũ khí lợi hại nuốt chửng con trâu) ”

“Ba quân” ​​là biểu tượng của sự đoàn kết, chung sức chiến đấu, đồng lòng, đồng sức, xây thành dày thành sức mạnh dân tộc. Ở đây, nghệ thuật so sánh đã cụ thể hóa sức mạnh tinh thần của đội quân mang tinh thần Đông A (khí thế ngút trời) càng làm tôn lên vẻ uy nghiêm của hình tượng người anh hùng “sóc sơn”. Tinh thần ấy cao cả hơn tất cả, đó là sự chiến đấu, anh dũng chiến thắng quân xâm lược. Ở đây hai câu thơ như sợi dây kết nối ý chí, tinh thần của một công dân anh hùng với một dân tộc anh hùng.

Người anh hùng đẹp bởi ý chí, tấm lòng cao cả: lập công trả ơn vua, báo nợ nước:

“Danh tiếng của người đàn ông vẫn còn nợ

Xấu hổ khi nghe câu chuyện của Wuhou “

Hai câu thơ không chỉ thể hiện tấm lòng anh dũng, ý chí kiên cường của người anh hùng thời Trần mà còn mang cả lí tưởng của một đấng nam nhi.

“Có tiếng trong thiên hạ

Cái gì cũng phải có danh với núi sông ”

(Nguyễn Công Trứ)

Hay ý chí quả cảm của người anh hùng năm xưa trong “Cảm hoài”:

“Giặc chưa trả

Dưới trăng mài gươm đã đành “

(Đăng Dũng)

Ở đây, khát vọng được sánh ngang với các bậc tiền nhân lỗi lạc, muốn xả thân vì nhà Trần, vì đất nước Đại Việt. Trái tim anh hùng và ý chí kiên cường của người anh hùng nằm trọn trong một “nỗi nhục”. “Xấu hổ” như một nỗi niềm, trăn trở vì kém thông minh, “thẹn” vì Tổ quốc lâm nguy mà nhân dân hiên ngang không thể đứng lên chiến đấu. Chúng ta đã từng gặp một “mắc cỡ” rất đẹp như trong thơ Nguyễn Khuyến:

“Tôi vừa định bỏ bút

Nghĩ lại, tôi thấy xấu hổ với anh Đạo “

(Vịnh mùa thu)

Đối với Nguyễn Khuyến, đó là nỗi “hổ thẹn” của một nhà Nho – một nghệ sĩ.

Đến với Phạm Ngũ Lão, vẻ đẹp anh hùng được khắc họa bằng nét vẽ rất đặc sắc: ngôn ngữ hào hùng, tráng lệ … bằng nghệ thuật dựng hình tượng, súc tích, tạo nên hình tượng anh hùng giàu ý nghĩa. và đầy hào hùng, trên mảnh đất quê hương đã ghi dấu những bàn chân anh hùng, những trái tim sục sôi ý chí, những tiếng nói đồng cảm. Vì vậy, cùng với “Hịch tướng sĩ” (Trần Quốc Tuấn), “Phò giá về hoàn lương” (Trần Quang Khải), “Lời dạy” cũng đã “sáng ngời chí khí Đông A”.

Họ là ngọn đuốc soi sáng cho chúng ta trong cuộc sống hôm nay, đánh thức trong mỗi chúng ta ý thức rèn luyện, tu dưỡng thân thể. Làm thế nào để vẻ vang đất nước, làm thế nào để luôn tiến về phía trước? Trong cuộc sống hôm nay, mỗi người cần phải sống có lý tưởng, hoài bão và mục tiêu cao đẹp, bởi lẽ: “Những khát vọng tốt đẹp là ngọn gió đưa đẩy con thuyền cuộc đời, dẫu nhiều giông bão” (Safontaine) và “Lý tưởng là ngọn đèn dẫn đường , không có lý tưởng thì không có phương hướng vững vàng, không có phương hướng thì không có cuộc sống ”(Leptolstoi).

“Sống là cho, chết là cho” (Tố Hữu). Quyết tâm đóng góp công sức xây dựng đất nước “đừng hỏi nước đã làm được gì cho ta, hãy hỏi ta đã làm được gì cho đất nước”. Tiếc thay, những con người có lối sống ích kỷ, không có lý tưởng, mục đích sống “ngày một mai một, ngày một héo mòn”.

Như vậy, hình tượng người anh hùng thời Trần với vẻ đẹp oai phong, lẫm liệt đã đưa con thuyền đất nước vượt qua mọi phong ba bão táp:

“Hồn dân tộc ngàn năm không bỏ

Hình dáng con tàu vẫn hướng ra biển ”.

Các bài liên quan khác:

  • Viết Confession (chi tiết)

  • Tác giả – Tác phẩm: Lời thú tội (Bố cục, Tóm tắt, Nội dung, Sơ đồ tư duy)

Đăng bởi: Trường ĐH KD & CN Hà Nội

Thể loại: Lớp 10

Thông tin cần xem thêm:

Hình Ảnh về Phân tích bài thơ Tỏ lòng – Văn mẫu 10 hay nhất

Video về Phân tích bài thơ Tỏ lòng – Văn mẫu 10 hay nhất

Wiki về Phân tích bài thơ Tỏ lòng – Văn mẫu 10 hay nhất

Phân tích bài thơ Tỏ lòng – Văn mẫu 10 hay nhất

Phân tích bài thơ Tỏ lòng – Văn mẫu 10 hay nhất -

Phân tích bài thơ Tỏ lòng - Phạm Ngũ Lão

“Thơ như đôi cánh nâng tôi lên”

Thơ là vũ khí trong trận chiến ”.

(Rasun-Gamzatop)

Lịch sử chân chính là vậy, văn học cũng vậy. Trong cuộc đấu tranh giành thắng lợi và xây dựng chủ nghĩa xã hội của dân tộc Việt Nam, văn học đã phản ánh và khơi dậy sức mạnh, niềm tin cho bao thế hệ. Bài thơ “Tỏ lòng” của Phạm Ngũ Lão là lời bày tỏ với bạn bè, với hậu thế, trước hết là với chính mình về tinh thần trách nhiệm của mình đối với Tổ quốc.

Phạm Ngũ Lão từng làm đến chức Điền suy, được ca tụng là người có tài văn võ song toàn. Phạm Ngũ Lão chỉ để lại hai bài thơ (Thuật hoài và Văn tế tướng quốc, Hưng Đạo đại vương ”), nhưng tên tuổi của ông vẫn đứng ngang hàng với những danh nhân bậc nhất của văn học thời Trần. . Hình tượng người anh hùng thời Trần kiên cường, dũng cảm, kiên trung trong hành trình bảo vệ Tổ quốc:

“Sóc bộ dáng.


(Ngọc vũ sông núi trải qua mấy mùa thu) ”

Tầm vóc, tư thế và hành động của anh ta rất to lớn và mạnh mẽ. Sự kỳ vĩ ấy càng thể hiện rõ trong mối quan hệ với không gian và thời gian: không gian mở ra bề ngang của sông núi, thời gian được đo bằng mùa và năm chứ không phải chỉ một khoảnh khắc.

Trong không khí hào hùng của thời đại:

“Ba đội quân hổ và làng bò

(Ba vũ khí lợi hại nuốt chửng con trâu) ”

“Ba quân” ​​là biểu tượng của sự đoàn kết, chung sức chiến đấu, đồng lòng, đồng sức, xây thành dày thành sức mạnh dân tộc. Ở đây, nghệ thuật so sánh đã cụ thể hóa sức mạnh tinh thần của đội quân mang tinh thần Đông A (khí thế ngút trời) càng làm tôn lên vẻ uy nghiêm của hình tượng người anh hùng “sóc sơn”. Tinh thần ấy cao cả hơn tất cả, đó là sự chiến đấu, anh dũng chiến thắng quân xâm lược. Ở đây hai câu thơ như sợi dây kết nối ý chí, tinh thần của một công dân anh hùng với một dân tộc anh hùng.

Người anh hùng đẹp bởi ý chí, tấm lòng cao cả: lập công trả ơn vua, báo nợ nước:

"Danh tiếng của người đàn ông vẫn còn nợ

Xấu hổ khi nghe câu chuyện của Wuhou "

Hai câu thơ không chỉ thể hiện tấm lòng anh dũng, ý chí kiên cường của người anh hùng thời Trần mà còn mang cả lí tưởng của một đấng nam nhi.

"Có tiếng trong thiên hạ

Cái gì cũng phải có danh với núi sông ”

(Nguyễn Công Trứ)

Hay ý chí quả cảm của người anh hùng năm xưa trong "Cảm hoài":

"Giặc chưa trả

Dưới trăng mài gươm đã đành "

(Đăng Dũng)

Ở đây, khát vọng được sánh ngang với các bậc tiền nhân lỗi lạc, muốn xả thân vì nhà Trần, vì đất nước Đại Việt. Trái tim anh hùng và ý chí kiên cường của người anh hùng nằm trọn trong một “nỗi nhục”. “Xấu hổ” như một nỗi niềm, trăn trở vì kém thông minh, “thẹn” vì Tổ quốc lâm nguy mà nhân dân hiên ngang không thể đứng lên chiến đấu. Chúng ta đã từng gặp một “mắc cỡ” rất đẹp như trong thơ Nguyễn Khuyến:

“Tôi vừa định bỏ bút

Nghĩ lại, tôi thấy xấu hổ với anh Đạo "

(Vịnh mùa thu)

Đối với Nguyễn Khuyến, đó là nỗi “hổ thẹn” của một nhà Nho - một nghệ sĩ.

Đến với Phạm Ngũ Lão, vẻ đẹp anh hùng được khắc họa bằng nét vẽ rất đặc sắc: ngôn ngữ hào hùng, tráng lệ ... bằng nghệ thuật dựng hình tượng, súc tích, tạo nên hình tượng anh hùng giàu ý nghĩa. và đầy hào hùng, trên mảnh đất quê hương đã ghi dấu những bàn chân anh hùng, những trái tim sục sôi ý chí, những tiếng nói đồng cảm. Vì vậy, cùng với “Hịch tướng sĩ” (Trần Quốc Tuấn), “Phò giá về hoàn lương” (Trần Quang Khải), “Lời dạy” cũng đã “sáng ngời chí khí Đông A”.

Họ là ngọn đuốc soi sáng cho chúng ta trong cuộc sống hôm nay, đánh thức trong mỗi chúng ta ý thức rèn luyện, tu dưỡng thân thể. Làm thế nào để vẻ vang đất nước, làm thế nào để luôn tiến về phía trước? Trong cuộc sống hôm nay, mỗi người cần phải sống có lý tưởng, hoài bão và mục tiêu cao đẹp, bởi lẽ: “Những khát vọng tốt đẹp là ngọn gió đưa đẩy con thuyền cuộc đời, dẫu nhiều giông bão” (Safontaine) và “Lý tưởng là ngọn đèn dẫn đường , không có lý tưởng thì không có phương hướng vững vàng, không có phương hướng thì không có cuộc sống ”(Leptolstoi).

“Sống là cho, chết là cho” (Tố Hữu). Quyết tâm đóng góp công sức xây dựng đất nước “đừng hỏi nước đã làm được gì cho ta, hãy hỏi ta đã làm được gì cho đất nước”. Tiếc thay, những con người có lối sống ích kỷ, không có lý tưởng, mục đích sống “ngày một mai một, ngày một héo mòn”.

Như vậy, hình tượng người anh hùng thời Trần với vẻ đẹp oai phong, lẫm liệt đã đưa con thuyền đất nước vượt qua mọi phong ba bão táp:

“Hồn dân tộc ngàn năm không bỏ

Hình dáng con tàu vẫn hướng ra biển ”.

Các bài liên quan khác:

  • Viết Confession (chi tiết)

  • Tác giả - Tác phẩm: Lời thú tội (Bố cục, Tóm tắt, Nội dung, Sơ đồ tư duy)

Đăng bởi: Trường ĐH KD & CN Hà Nội

Thể loại: Lớp 10

[rule_{ruleNumber}]

Phân tích bài thơ Tỏ lòng – Phạm Ngũ Lão

“Thơ như đôi cánh nâng tôi lên”

Thơ là vũ khí trong trận chiến ”.

(Rasun-Gamzatop)

Lịch sử chân chính là vậy, văn học cũng vậy. Trong cuộc đấu tranh giành thắng lợi và xây dựng chủ nghĩa xã hội của dân tộc Việt Nam, văn học đã phản ánh và khơi dậy sức mạnh, niềm tin cho bao thế hệ. Bài thơ “Tỏ lòng” của Phạm Ngũ Lão là lời bày tỏ với bạn bè, với hậu thế, trước hết là với chính mình về tinh thần trách nhiệm của mình đối với Tổ quốc.

Phạm Ngũ Lão từng làm đến chức Điền suy, được ca tụng là người có tài văn võ song toàn. Phạm Ngũ Lão chỉ để lại hai bài thơ (Thuật hoài và Văn tế tướng quốc, Hưng Đạo đại vương ”), nhưng tên tuổi của ông vẫn đứng ngang hàng với những danh nhân bậc nhất của văn học thời Trần. . Hình tượng người anh hùng thời Trần kiên cường, dũng cảm, kiên trung trong hành trình bảo vệ Tổ quốc:

“Sóc bộ dáng.


(Ngọc vũ sông núi trải qua mấy mùa thu) ”

Tầm vóc, tư thế và hành động của anh ta rất to lớn và mạnh mẽ. Sự kỳ vĩ ấy càng thể hiện rõ trong mối quan hệ với không gian và thời gian: không gian mở ra bề ngang của sông núi, thời gian được đo bằng mùa và năm chứ không phải chỉ một khoảnh khắc.

Trong không khí hào hùng của thời đại:

“Ba đội quân hổ và làng bò

(Ba vũ khí lợi hại nuốt chửng con trâu) ”

“Ba quân” ​​là biểu tượng của sự đoàn kết, chung sức chiến đấu, đồng lòng, đồng sức, xây thành dày thành sức mạnh dân tộc. Ở đây, nghệ thuật so sánh đã cụ thể hóa sức mạnh tinh thần của đội quân mang tinh thần Đông A (khí thế ngút trời) càng làm tôn lên vẻ uy nghiêm của hình tượng người anh hùng “sóc sơn”. Tinh thần ấy cao cả hơn tất cả, đó là sự chiến đấu, anh dũng chiến thắng quân xâm lược. Ở đây hai câu thơ như sợi dây kết nối ý chí, tinh thần của một công dân anh hùng với một dân tộc anh hùng.

Người anh hùng đẹp bởi ý chí, tấm lòng cao cả: lập công trả ơn vua, báo nợ nước:

“Danh tiếng của người đàn ông vẫn còn nợ

Xấu hổ khi nghe câu chuyện của Wuhou “

Hai câu thơ không chỉ thể hiện tấm lòng anh dũng, ý chí kiên cường của người anh hùng thời Trần mà còn mang cả lí tưởng của một đấng nam nhi.

“Có tiếng trong thiên hạ

Cái gì cũng phải có danh với núi sông ”

(Nguyễn Công Trứ)

Hay ý chí quả cảm của người anh hùng năm xưa trong “Cảm hoài”:

“Giặc chưa trả

Dưới trăng mài gươm đã đành “

(Đăng Dũng)

Ở đây, khát vọng được sánh ngang với các bậc tiền nhân lỗi lạc, muốn xả thân vì nhà Trần, vì đất nước Đại Việt. Trái tim anh hùng và ý chí kiên cường của người anh hùng nằm trọn trong một “nỗi nhục”. “Xấu hổ” như một nỗi niềm, trăn trở vì kém thông minh, “thẹn” vì Tổ quốc lâm nguy mà nhân dân hiên ngang không thể đứng lên chiến đấu. Chúng ta đã từng gặp một “mắc cỡ” rất đẹp như trong thơ Nguyễn Khuyến:

“Tôi vừa định bỏ bút

Nghĩ lại, tôi thấy xấu hổ với anh Đạo “

(Vịnh mùa thu)

Đối với Nguyễn Khuyến, đó là nỗi “hổ thẹn” của một nhà Nho – một nghệ sĩ.

Đến với Phạm Ngũ Lão, vẻ đẹp anh hùng được khắc họa bằng nét vẽ rất đặc sắc: ngôn ngữ hào hùng, tráng lệ … bằng nghệ thuật dựng hình tượng, súc tích, tạo nên hình tượng anh hùng giàu ý nghĩa. và đầy hào hùng, trên mảnh đất quê hương đã ghi dấu những bàn chân anh hùng, những trái tim sục sôi ý chí, những tiếng nói đồng cảm. Vì vậy, cùng với “Hịch tướng sĩ” (Trần Quốc Tuấn), “Phò giá về hoàn lương” (Trần Quang Khải), “Lời dạy” cũng đã “sáng ngời chí khí Đông A”.

Họ là ngọn đuốc soi sáng cho chúng ta trong cuộc sống hôm nay, đánh thức trong mỗi chúng ta ý thức rèn luyện, tu dưỡng thân thể. Làm thế nào để vẻ vang đất nước, làm thế nào để luôn tiến về phía trước? Trong cuộc sống hôm nay, mỗi người cần phải sống có lý tưởng, hoài bão và mục tiêu cao đẹp, bởi lẽ: “Những khát vọng tốt đẹp là ngọn gió đưa đẩy con thuyền cuộc đời, dẫu nhiều giông bão” (Safontaine) và “Lý tưởng là ngọn đèn dẫn đường , không có lý tưởng thì không có phương hướng vững vàng, không có phương hướng thì không có cuộc sống ”(Leptolstoi).

“Sống là cho, chết là cho” (Tố Hữu). Quyết tâm đóng góp công sức xây dựng đất nước “đừng hỏi nước đã làm được gì cho ta, hãy hỏi ta đã làm được gì cho đất nước”. Tiếc thay, những con người có lối sống ích kỷ, không có lý tưởng, mục đích sống “ngày một mai một, ngày một héo mòn”.

Như vậy, hình tượng người anh hùng thời Trần với vẻ đẹp oai phong, lẫm liệt đã đưa con thuyền đất nước vượt qua mọi phong ba bão táp:

“Hồn dân tộc ngàn năm không bỏ

Hình dáng con tàu vẫn hướng ra biển ”.

Các bài liên quan khác:

  • Viết Confession (chi tiết)

  • Tác giả – Tác phẩm: Lời thú tội (Bố cục, Tóm tắt, Nội dung, Sơ đồ tư duy)

Đăng bởi: Trường ĐH KD & CN Hà Nội

Thể loại: Lớp 10

Bạn thấy bài viết Phân tích bài thơ Tỏ lòng – Văn mẫu 10 hay nhất có giải quyết đươc vấn đề bạn tìm hiểu không?, nếu  không hãy comment góp ý thêm về Phân tích bài thơ Tỏ lòng – Văn mẫu 10 hay nhất bên dưới để https://hubm.edu.vn/ có thể chỉnh sửa & cải thiện nội dung tốt hơn cho độc giả nhé! Cám ơn bạn đã ghé thăm Website ĐH KD & CN Hà Nội

Nguồn: hubm.edu.vn

#Phân #tích #bài #thơ #Tỏ #lòng #Văn #mẫu #hay #nhất

Xem thêm bài viết hay:  Điện năng tiêu thụ được tính bằng công thức nào?

ĐH KD & CN Hà Nội

Trường Đại học Quản lý và Kinh doanh Hà nội là một trường dân lập, thuộc Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam, được phép thành lập theo Quyết định số 405/TTg, ngày 15/6/1996 của Thủ tướng Chính phủ. Trường chịu sự quản lý Nhà nước của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Hệ thống văn bằng của Trường nằm trong hệ thống văn bằng quốc gia. Ngày 15/09/2006 Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định số 750/QĐ-TTg về việc đổi tên trường thành Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button