Kiến thức chung

Phân tích bài thơ “Trao duyên” trong Truyện Kiều lớp 10

Bạn đang xem: Phân tích bài thơ “Trao duyên” trong Truyện Kiều lớp 10 tại ĐH KD & CN Hà Nội

Trang chủ »Tài liệu luận văn

16/11/2020

Bài thơ “Trao Duyên” chắc hẳn các em học sinh lớp 10 đều biết, nhưng phân tích bài thơ như thế nào? Đừng lo lắng, hôm nay bài viết này sẽ hướng dẫn bạn. Lập dàn ý phân tích bài thơ Trào Duyên. Dưới đây là sơ lược chi tiết nhất.

Mục lục 1. Đề 1: Phân tích dàn ý 12 câu đầu đoạn trích. “Bùa ngải” 2. Đề 2: Phân tích dàn ý câu cuối đoạn trích. “Đổi duyên” 3. Bài văn mẫu phân tích các bài thơ về bùa ngải

Đưa ra các vấn đề để thảo luận trích dẫn kinh thánh

– Tình huống trước của Kiều: Gia đình gặp nạn, Kiều định bán chuộc cha, Kiều có ý nối lại tình yêu với Thúy Vân.

– Thúy Kiều giải thích lý do cố gắng thuyết phục mình yêu Thúy Vân:

Lời cầu xin (2 câu đầu):

  • Ngữ: vọng, chấp (trái với xin), vâng: vừa xin, vừa nài nỉ, van xin; Buộc phải hỏi
  • Hành động: Lễ phép (lễ phép, trịnh trọng), nói (cử chỉ: điệu bộ, nợ Vân) -> Lời nói và hành động khác hẳn nhau. Nội dung trong một mối quan hệ là điều quan trọng và khó nói, thêm vào đó, Kiều khôn khéo hiểu được nhược điểm của mình, tạo Không khí thích hợp để “trao duyên”

Thúy Kiều thuyết phục Thúy Vân (6 câu):

  • Tình yêu gợi cảm: cách nhớ về tình yêu đẹp (danh sách, đoạn phụ)
  • Miêu tả về tình yêu của Kew: “Chia sẻ gánh nặng tình yêu”, “Bão tố nào” hãy chọn tình yêu.
  • Thuý Vân tình yêu: Keo dán cùng nhau ”: Dù quyết định thế nào đi chăng nữa, Thuý Vân còn trẻ, còn tương lai Thuý Vân và Kiều tình máu mủ ruột rà.
  • Sự hi sinh của Thuý Vân làm Thuý Kiều cảm kích (suối cười) -> Bình tĩnh, khéo léo, thuyết phục hợp lí, có tình thì Kiều dẫn Vân đến là điều bất khả kháng.

=> Đây là tiếng tri âm, Thúy Kiều đã thành tâm tri ân, nhất thời nhẹ lòng.

Nội dung nghệ thuật trên cả hai mặt giấy Bạn nên bao gồm nội dung

  • cách dùng từ, dùng thành ngữ, so sánh, ngụ ngôn, điển cố
  • Cách ngắt nhịp (2 câu cuối), lặp từ ngữ, dấu chấm than và từ ghép, thanh điệu…

nhận thức chung về giá trị của thơ Thành tích của tác giả Nguyễn Tú

Đưa ra các vấn đề để thảo luận trích dẫn kinh thánh

– Tình huống Kiều trước: Gia đình gặp tai họa, Kiều định bán chuộc cha.

– Trả lại tình cảm cho Tui Vân Kyo, cảm xúc trào dâng từ trái tim đến trái tim. tâm trạng phức tạp Đến gặp tình yêu đổi lấy một thời Kyo quen Kim Tòng.

– Đau khổ đến đỉnh điểm Cuộc trao đổi tình yêu không hề êm đềm. Kyo cảm thấy tội lỗi khi ngoại tình với người yêu -> Kim Tòng thổ lộ trái tim trước mặt mình

+ Hướng về tình yêu: Nỗi đau trong quá khứ (Đa tạ) (trâm cài kính vỡ mối quan hệ ngắn ngủi đặt trước)

+ than thở về tình trạng (Số phận bạc và chanh, Nước chảy và hoa trôi ngoài làng)

+ Xưng tội phản quốc:

  • Ôi quân tử (nên ví như lạy Thúy Vân) Tôi xin lỗi …
  • Đau khổ, vật vã, giữ trọn lời thề, tình yêu tan vỡ đôi … rơi vào một thảm kịch

=> Mong nhận được sự thông cảm

– Nội dung nghệ thuật trên cả hai mặt giấy Học sinh nên tích hợp nội dung

  • Cách dùng từ (nay lạy, yêu bộ đội, phải Kim Lăng …) sử dụng thành ngữ, so sánh, ẩn dụ.
  • Cách ngắt nhịp (2 câu cuối), lặp từ ngữ, dấu chấm than, so le, giọng điệu …

nhận thức chung về giá trị của thơ Thành tích của tác giả Nguyễn Tú

Định mệnh là một món quà từ ông trời. không bắt buộc phải yêu cầu và càng không phải là để ép buộc, đòi hỏi Tuy nhiên, Thúy Kiều trong đoạn trích “Trao duyên” (Truyện Kiều) của Nguyễn Du đã ban cho mình cái ân “tùy duyên” như vậy.

Tác giả phân tích những cảm xúc cay đắng, đau đớn của Thúy Kiều khi trao cho em gái Thúy Vân mối tình đầu Kim Trọng. bi kịch buồn

gọi là định mệnh Nó đến một cách tự nhiên, không tìm được nữa thì giữ lấy, khi mất đi thì để nó trôi đi Đó là định mệnh của mỗi người, mỗi cuộc đời khi gặp nhau.

Trong tình yêu, chữ “định sẵn” này lớn hơn, quan trọng hơn nhưng Thúy Kiều trong đoạn trích “Trao duyên” đòi hỏi phải dành những lời đã định trước của cô ấy cho người khác.

Nguyễn Du chua xót khi lý giải tâm trạng của Thúy Kiều lúc này:

tin tôi đi, tôi sẽ chấp nhận
Ngồi cho tôi và tôi sẽ nói

Chỉ có hai chương, nhưng nhiều cay đắng và đau khổ. Rơi nhiều nước mắt, đau xót Chữ “cậy” đặt ở đầu câu miêu tả hoàn cảnh khốn khó, khó khăn, vất vả của Thuý Kiều, Thuý Kiều ban đầu là gì? Sẽ không có tiếng “lạy”, “lạy” Thuý Vân . để làm gì, nhưng trong tình huống này Bạn phải làm những điều có vẻ mâu thuẫn.

Mối quan hệ được xác định trước với Kim là do Thượng đế ban tặng. Nhưng số phận của Thúy Kiều trôi nổi, bấp bênh, nàng không muốn giúp chàng. Vì vậy cô ấy muốn dựa vào em gái mình để tiếp tục mối quan hệ dang dở đó. Bài thơ này dường như làm quặn lòng người đọc với nỗi chua xót tột cùng, chữ “cậy” là dấu ấn thành tựu ngôn ngữ của Nguyễn Tu.

Thúy Kiều bắt đầu bộc lộ cảm xúc của mình bằng những câu ca dao như sau:

Giữa con đường đến cuối tương lai
Keo phần đan thừa để mặc bạn.
kể từ khi tôi gặp Kim
Khi bạn gái mong ước trong ngày ban đêm thề
bất kỳ sự hỗn loạn nào
hiểu sự khôn ngoan của cả hai bên

Đến đây, người đọc mới thực sự hiểu ý nghĩa của từ ‘phụ thuộc’. nhưng cưỡng cầu, ép buộc, Thúy Kiều đã hiểu ra sự tình. hiểu nỗi đau của chính bạn

Bà hy sinh chữ tình vì người con hiếu thảo, quyết tâm giúp đỡ Kim. Nhưng cô không giúp được gì cho bố mẹ. Một cô gái yếu đuối, mỏng manh nhưng rất biết ơn, “gánh nặng tình yêu” đổ ập xuống, mối quan hệ sụp đổ. Nhưng Kiew không muốn Kim phải đau lòng. Cô chỉ mong Thụy Vân có thể xây dựng lại mối quan hệ này.

Dù cô “trao duyên” cho em gái. Nhưng trái tim cô đau nhói Những lời hứa, những mong đợi, những kỉ niệm như xát muối vào trái tim cô gái mỏng manh.

Thúy Kiều tài sắc vẹn toàn khi “xì tin” vào nét duyên của em gái. Đem chuyện kể cho Thụy Vân nghe, nên Thụy Vân không thể chối cãi:

Những ngày thanh xuân của bạn vẫn còn xa.
Lòng nhân ái máu non thay lời muốn nói.
Dù thịt nát xương tan.
Chín dòng cười vẫn thơm.

Thuý Kiều và Thuý Vân đều đã “già”, nhưng nàng đã nhắc nhở Thuý Vân rằng “ngày xuân ta còn lâu mới dứt” khiến chàng Kim có thể liên tưởng đến con người ở nàng Kiều.

Thật đau đớn chua xót khi Kiều nhắc đến cái chết. Lời tiên tri xui xẻo hay cuộc đời chông chênh mà nàng sắp phải chịu, Thúy Vân có thể cứu giúp, dù mai này có chết Kiều vẫn “chín nụ cười”. trung thực Sống và yêu bằng cả trái tim

“Trao gửi” mối quan hệ đã định sẵn mà mình yêu thương và trân trọng là một điều đau khổ và cay đắng mà Kiều phải chịu đựng, nhưng đây là con đường mà Q buộc phải lựa chọn vì không còn sự lựa chọn nào khác, Kiều mong rằng em gái mình sẽ duy trì mối quan hệ đó. Bạn phải buông bỏ Để không phụ lòng Kim Trọng

Và cái chết dường như hiện rõ hơn trong lời Kiều:

mặc dù ngày mai
Đốt lư hương so với cái móc khóa này.
trông giống như một ngọn cỏ
Thật tốt khi thấy gió thổi.
tâm hồn nặng trĩu với những lời thề
Cây liễu gãy, đèn lồng tre, hàng nghìn chiếc đèn lồng
Trạm khác xa mặt ăn nói.
tưới nhầm người

Sống trong một xã hội còn nhiều bất công Những người lẽ ra được sống một cuộc đời đầy hạnh phúc thì phải chọn con đường mà nước mắt chảy dài.

Chết không phải là hết đối với Kiều vì nàng còn mang nặng nợ đời với Kim Trọng Thúy Kiều không giúp được gì, mong Kim Trọng hiểu cho, ngõ cụt và nỗi đau khổ trong lòng Thúy Kiều dường như chồng chất, không thể giúp được gì. nhưng bỏ đi

Nguyễn Du đã dùng những từ ngữ có sát khí rất mạnh. đốn tim người đọc bao nỗi đau Tôi thấy thương cho một người phụ nữ yếu đuối với trái tim yêu chân thành. nhưng lại rơi vào tình trạng vô cùng trì trệ

đoạn trích “Trao duyên” khiến người đọc không kìm nén được xúc động khi nghĩ đến thân phận và nỗi đau mà người con gái hiếu thảo phải chịu đựng.

xã hội bất công Tấm lòng của những người đàn ông đã đẩy những kẻ thấp cổ bé họng vào con đường bơ vơ, cuộc tình tan vỡ của Thúy Kiều và nàng là minh chứng cho điều này.

Thông tin cần xem thêm: Phân tích bài thơ “Trao duyên” trong Truyện Kiều lớp 10

Hình Ảnh về Phân tích bài thơ “Trao duyên” trong Truyện Kiều lớp 10

Video về Phân tích bài thơ “Trao duyên” trong Truyện Kiều lớp 10

Wiki về Phân tích bài thơ “Trao duyên” trong Truyện Kiều lớp 10

Phân tích bài thơ “Trao duyên” trong Truyện Kiều lớp 10

Phân tích bài thơ “Trao duyên” trong Truyện Kiều lớp 10 -

Trang chủ »Tài liệu luận văn

16/11/2020

Bài thơ “Trao Duyên” chắc hẳn các em học sinh lớp 10 đều biết, nhưng phân tích bài thơ như thế nào? Đừng lo lắng, hôm nay bài viết này sẽ hướng dẫn bạn. Lập dàn ý phân tích bài thơ Trào Duyên. Dưới đây là sơ lược chi tiết nhất.

Mục lục 1. Đề 1: Phân tích dàn ý 12 câu đầu đoạn trích. “Bùa ngải” 2. Đề 2: Phân tích dàn ý câu cuối đoạn trích. “Đổi duyên” 3. Bài văn mẫu phân tích các bài thơ về bùa ngải

Đưa ra các vấn đề để thảo luận trích dẫn kinh thánh

- Tình huống trước của Kiều: Gia đình gặp nạn, Kiều định bán chuộc cha, Kiều có ý nối lại tình yêu với Thúy Vân.

- Thúy Kiều giải thích lý do cố gắng thuyết phục mình yêu Thúy Vân:

Lời cầu xin (2 câu đầu):

  • Ngữ: vọng, chấp (trái với xin), vâng: vừa xin, vừa nài nỉ, van xin; Buộc phải hỏi
  • Hành động: Lễ phép (lễ phép, trịnh trọng), nói (cử chỉ: điệu bộ, nợ Vân) -> Lời nói và hành động khác hẳn nhau. Nội dung trong một mối quan hệ là điều quan trọng và khó nói, thêm vào đó, Kiều khôn khéo hiểu được nhược điểm của mình, tạo Không khí thích hợp để "trao duyên"

Thúy Kiều thuyết phục Thúy Vân (6 câu):

  • Tình yêu gợi cảm: cách nhớ về tình yêu đẹp (danh sách, đoạn phụ)
  • Miêu tả về tình yêu của Kew: "Chia sẻ gánh nặng tình yêu", "Bão tố nào" hãy chọn tình yêu.
  • Thuý Vân tình yêu: Keo dán cùng nhau ”: Dù quyết định thế nào đi chăng nữa, Thuý Vân còn trẻ, còn tương lai Thuý Vân và Kiều tình máu mủ ruột rà.
  • Sự hi sinh của Thuý Vân làm Thuý Kiều cảm kích (suối cười) -> Bình tĩnh, khéo léo, thuyết phục hợp lí, có tình thì Kiều dẫn Vân đến là điều bất khả kháng.

=> Đây là tiếng tri âm, Thúy Kiều đã thành tâm tri ân, nhất thời nhẹ lòng.

Nội dung nghệ thuật trên cả hai mặt giấy Bạn nên bao gồm nội dung

  • cách dùng từ, dùng thành ngữ, so sánh, ngụ ngôn, điển cố
  • Cách ngắt nhịp (2 câu cuối), lặp từ ngữ, dấu chấm than và từ ghép, thanh điệu…

nhận thức chung về giá trị của thơ Thành tích của tác giả Nguyễn Tú

Đưa ra các vấn đề để thảo luận trích dẫn kinh thánh

- Tình huống Kiều trước: Gia đình gặp tai họa, Kiều định bán chuộc cha.

- Trả lại tình cảm cho Tui Vân Kyo, cảm xúc trào dâng từ trái tim đến trái tim. tâm trạng phức tạp Đến gặp tình yêu đổi lấy một thời Kyo quen Kim Tòng.

- Đau khổ đến đỉnh điểm Cuộc trao đổi tình yêu không hề êm đềm. Kyo cảm thấy tội lỗi khi ngoại tình với người yêu -> Kim Tòng thổ lộ trái tim trước mặt mình

+ Hướng về tình yêu: Nỗi đau trong quá khứ (Đa tạ) (trâm cài kính vỡ mối quan hệ ngắn ngủi đặt trước)

+ than thở về tình trạng (Số phận bạc và chanh, Nước chảy và hoa trôi ngoài làng)

+ Xưng tội phản quốc:

  • Ôi quân tử (nên ví như lạy Thúy Vân) Tôi xin lỗi ...
  • Đau khổ, vật vã, giữ trọn lời thề, tình yêu tan vỡ đôi ... rơi vào một thảm kịch

=> Mong nhận được sự thông cảm

- Nội dung nghệ thuật trên cả hai mặt giấy Học sinh nên tích hợp nội dung

  • Cách dùng từ (nay lạy, yêu bộ đội, phải Kim Lăng ...) sử dụng thành ngữ, so sánh, ẩn dụ.
  • Cách ngắt nhịp (2 câu cuối), lặp từ ngữ, dấu chấm than, so le, giọng điệu ...

nhận thức chung về giá trị của thơ Thành tích của tác giả Nguyễn Tú

Định mệnh là một món quà từ ông trời. không bắt buộc phải yêu cầu và càng không phải là để ép buộc, đòi hỏi Tuy nhiên, Thúy Kiều trong đoạn trích “Trao duyên” (Truyện Kiều) của Nguyễn Du đã ban cho mình cái ân “tùy duyên” như vậy.

Tác giả phân tích những cảm xúc cay đắng, đau đớn của Thúy Kiều khi trao cho em gái Thúy Vân mối tình đầu Kim Trọng. bi kịch buồn

gọi là định mệnh Nó đến một cách tự nhiên, không tìm được nữa thì giữ lấy, khi mất đi thì để nó trôi đi Đó là định mệnh của mỗi người, mỗi cuộc đời khi gặp nhau.

Trong tình yêu, chữ “định sẵn” này lớn hơn, quan trọng hơn nhưng Thúy Kiều trong đoạn trích “Trao duyên” đòi hỏi phải dành những lời đã định trước của cô ấy cho người khác.

Nguyễn Du chua xót khi lý giải tâm trạng của Thúy Kiều lúc này:

tin tôi đi, tôi sẽ chấp nhận
Ngồi cho tôi và tôi sẽ nói

Chỉ có hai chương, nhưng nhiều cay đắng và đau khổ. Rơi nhiều nước mắt, đau xót Chữ “cậy” đặt ở đầu câu miêu tả hoàn cảnh khốn khó, khó khăn, vất vả của Thuý Kiều, Thuý Kiều ban đầu là gì? Sẽ không có tiếng “lạy”, “lạy” Thuý Vân . để làm gì, nhưng trong tình huống này Bạn phải làm những điều có vẻ mâu thuẫn.

Mối quan hệ được xác định trước với Kim là do Thượng đế ban tặng. Nhưng số phận của Thúy Kiều trôi nổi, bấp bênh, nàng không muốn giúp chàng. Vì vậy cô ấy muốn dựa vào em gái mình để tiếp tục mối quan hệ dang dở đó. Bài thơ này dường như làm quặn lòng người đọc với nỗi chua xót tột cùng, chữ “cậy” là dấu ấn thành tựu ngôn ngữ của Nguyễn Tu.

Thúy Kiều bắt đầu bộc lộ cảm xúc của mình bằng những câu ca dao như sau:

Giữa con đường đến cuối tương lai
Keo phần đan thừa để mặc bạn.
kể từ khi tôi gặp Kim
Khi bạn gái mong ước trong ngày ban đêm thề
bất kỳ sự hỗn loạn nào
hiểu sự khôn ngoan của cả hai bên

Đến đây, người đọc mới thực sự hiểu ý nghĩa của từ 'phụ thuộc'. nhưng cưỡng cầu, ép buộc, Thúy Kiều đã hiểu ra sự tình. hiểu nỗi đau của chính bạn

Bà hy sinh chữ tình vì người con hiếu thảo, quyết tâm giúp đỡ Kim. Nhưng cô không giúp được gì cho bố mẹ. Một cô gái yếu đuối, mỏng manh nhưng rất biết ơn, “gánh nặng tình yêu” đổ ập xuống, mối quan hệ sụp đổ. Nhưng Kiew không muốn Kim phải đau lòng. Cô chỉ mong Thụy Vân có thể xây dựng lại mối quan hệ này.

Dù cô "trao duyên" cho em gái. Nhưng trái tim cô đau nhói Những lời hứa, những mong đợi, những kỉ niệm như xát muối vào trái tim cô gái mỏng manh.

Thúy Kiều tài sắc vẹn toàn khi “xì tin” vào nét duyên của em gái. Đem chuyện kể cho Thụy Vân nghe, nên Thụy Vân không thể chối cãi:

Những ngày thanh xuân của bạn vẫn còn xa.
Lòng nhân ái máu non thay lời muốn nói.
Dù thịt nát xương tan.
Chín dòng cười vẫn thơm.

Thuý Kiều và Thuý Vân đều đã “già”, nhưng nàng đã nhắc nhở Thuý Vân rằng “ngày xuân ta còn lâu mới dứt” khiến chàng Kim có thể liên tưởng đến con người ở nàng Kiều.

Thật đau đớn chua xót khi Kiều nhắc đến cái chết. Lời tiên tri xui xẻo hay cuộc đời chông chênh mà nàng sắp phải chịu, Thúy Vân có thể cứu giúp, dù mai này có chết Kiều vẫn “chín nụ cười”. trung thực Sống và yêu bằng cả trái tim

“Trao gửi” mối quan hệ đã định sẵn mà mình yêu thương và trân trọng là một điều đau khổ và cay đắng mà Kiều phải chịu đựng, nhưng đây là con đường mà Q buộc phải lựa chọn vì không còn sự lựa chọn nào khác, Kiều mong rằng em gái mình sẽ duy trì mối quan hệ đó. Bạn phải buông bỏ Để không phụ lòng Kim Trọng

Và cái chết dường như hiện rõ hơn trong lời Kiều:

mặc dù ngày mai
Đốt lư hương so với cái móc khóa này.
trông giống như một ngọn cỏ
Thật tốt khi thấy gió thổi.
tâm hồn nặng trĩu với những lời thề
Cây liễu gãy, đèn lồng tre, hàng nghìn chiếc đèn lồng
Trạm khác xa mặt ăn nói.
tưới nhầm người

Sống trong một xã hội còn nhiều bất công Những người lẽ ra được sống một cuộc đời đầy hạnh phúc thì phải chọn con đường mà nước mắt chảy dài.

Chết không phải là hết đối với Kiều vì nàng còn mang nặng nợ đời với Kim Trọng Thúy Kiều không giúp được gì, mong Kim Trọng hiểu cho, ngõ cụt và nỗi đau khổ trong lòng Thúy Kiều dường như chồng chất, không thể giúp được gì. nhưng bỏ đi

Nguyễn Du đã dùng những từ ngữ có sát khí rất mạnh. đốn tim người đọc bao nỗi đau Tôi thấy thương cho một người phụ nữ yếu đuối với trái tim yêu chân thành. nhưng lại rơi vào tình trạng vô cùng trì trệ

đoạn trích “Trao duyên” khiến người đọc không kìm nén được xúc động khi nghĩ đến thân phận và nỗi đau mà người con gái hiếu thảo phải chịu đựng.

xã hội bất công Tấm lòng của những người đàn ông đã đẩy những kẻ thấp cổ bé họng vào con đường bơ vơ, cuộc tình tan vỡ của Thúy Kiều và nàng là minh chứng cho điều này.

[rule_{ruleNumber}]

Bạn thấy bài viết Phân tích bài thơ “Trao duyên” trong Truyện Kiều lớp 10 có giải quyết đươc vấn đề bạn tìm hiểu không?, nếu  không hãy comment góp ý thêm về Phân tích bài thơ “Trao duyên” trong Truyện Kiều lớp 10 bên dưới để https://hubm.edu.vn/ có thể chỉnh sửa & cải thiện nội dung tốt hơn cho độc giả nhé! Cám ơn bạn đã ghé thăm Website ĐH KD & CN Hà Nội

Nguồn: ĐH KD & CN Hà Nội
Chuyên mục: Kiến thức chung

#Phân #tích #bài #thơ #Trao #duyên #trong #Truyện #Kiều #lớp

Xem thêm bài viết hay:  Hospitality là gì? Tìm hiểu về tiềm năng cơ hội nghề nghiệp

ĐH KD & CN Hà Nội

Trường Đại học Quản lý và Kinh doanh Hà nội là một trường dân lập, thuộc Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam, được phép thành lập theo Quyết định số 405/TTg, ngày 15/6/1996 của Thủ tướng Chính phủ. Trường chịu sự quản lý Nhà nước của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Hệ thống văn bằng của Trường nằm trong hệ thống văn bằng quốc gia. Ngày 15/09/2006 Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định số 750/QĐ-TTg về việc đổi tên trường thành Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button