Giáo Dục

Phân tích bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc để làm rõ bài văn tế là bài ca của những người tuy mất nhưng vẫn tự hào.

Có phải bạn đang tìm kiếm chủ đề về => Phân tích bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc để làm rõ bài văn tế là bài ca của những người tuy mất nhưng vẫn tự hào.

phải không? Nếu đúng như vậy thì mời bạn xem nó ngay tại đây. Xem thêm các bài tập khác tại đây => Giáo dục

Chủ đề: Phân tích bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc để làm rõ bài văn tế là bài ca của những người tuy mất nhưng vẫn tự hào.

Phân tích công việc này cần phải làm cho đến nơi đến chốn, đó là công việc của những người rất tự hào về nó.

Bài văn mẫu chứng minh câu nói nghĩa sĩ Cần Giuộc để làm sáng tỏ bài Văn tế nghĩa sĩ tuy thiệt thòi nhưng vẫn tự hào.

Bạn đang xem: Phân tích bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc để làm rõ bài Văn tế nghĩa sĩ tuy thiệt thòi nhưng vẫn tự hào

Phân công:

Trong văn học trung đại Việt Nam, chúng ta đã thấy hình ảnh người nông dân với phong thái trang nghiêm qua bài ca dao “Đại náo thiên cung”: “An cư lạc nghiệp, nam nhân tứ trọng” (Eng. Cờ gậy, manh (dân cày và phân tán), tỷ lệ (người hầu ở) bốn phương tụ lại). Trong đoạn thơ, tác giả Nguyễn Trãi đã khẳng định vai trò, vị trí quan trọng của nông dân trong cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm là đề cao tư tưởng thân dân. Cho đến khi “Người nghĩa sĩ Cần Giuộc” của Nguyễn Đình Chiểu xuất hiện thì hình ảnh người nông dân giàu lòng nhân ái mới được khắc họa đầy đủ. Qua tác phẩm này, chúng ta thấy được những tượng đài bi tráng, bất tử về những anh hùng tuy mất đi tính mạng nhưng vẫn hiên ngang sừng sững.

Ngay từ phần mở đầu đã làm nổi bật bối cảnh thời cuộc và ý nghĩa cái chết bất tử của người nông dân và khẳng định: “Súng giặc ầm ầm, lòng dân lộ thiên”. Chỉ với tám chữ ngắn gọn, tác giả đã tái hiện thành công một thời đại bị giặc ngoại xâm lăng xăng, tủi nhục nhưng đồng thời cũng rất oai hùng, vĩ đại bởi lòng yêu nước kiên cường của nhân dân. ; gợi không khí khẩn trương, náo nhiệt. Trong bối cảnh đó, người nông dân hiện lên qua sự đối lập giữa cuộc sống thường nhật “mười năm vất vả” và hành động “đánh Tây một trận chính nghĩa” càng làm nổi bật lên ý nghĩa thiêng liêng, muôn thuở.

Ở phần tiếp theo, tác giả đã tái hiện một cách chân thực hình tượng người nông dân anh hùng thông qua việc nhắc lại công lao, đức tính của họ. Trước khi tham gia chiến đấu, họ chỉ là những người dân lao động bình thường, chất phác, giản dị, quanh năm lam lũ, vất vả với hành trình: “Mồ côi làm ăn, lo nghèo”, ngày ngày “chỉ biết ruộng trâu mà sống. ở làng quê ”và hoàn toàn xa lạ với công việc của những người lính:“ tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ, mắt chưa từng thấy ”. Phải chăng vì quá gắn bó với cánh đồng mênh mông và quê hương thân thuộc nên họ luôn nung nấu lòng căm thù giặc cướp. Khi hay tin kẻ thù có bước chân xâm phạm lãnh thổ của mình, người nông dân bằng lòng, tự giác đứng lên vì đại nghĩa: “Chờ ai hỏi ai mà bắt, lần này xin cố gắng thôi đánh nhau; chẳng thèm trốn chạy,” để ẩn náu, chuyến đi này đã hướng đến những con hổ ”. Với tinh thần hăng hái, tự nguyện ấy, người nông dân áo vải xông pha trận mạc, bất ngờ đứng lên trở thành những anh hùng với tư thế hào hùng, oanh liệt trong “trận đánh Tây thắng lợi”. Chỉ với quần áo bằng vải, áo, ống hút, lưỡi phay, … vô cùng thô sơ, nhưng với tinh thần chiến đấu sục sôi, quyết liệt, họ lao vào kẻ thù với hành động mạnh mẽ: “Kẻ đâm, chém ngược, làm tà ma, ám hồn; hè trước, hè sau, tàu sắt, tàu đồng súng nổ ”. Tác giả đã sử dụng phong cách hiện thực để miêu tả chân dung người nông dân anh hùng từ ngoại hình đến cuộc sống lao động, sinh hoạt hàng ngày. Bên cạnh đó, phong cách tương phản là cũng được sử dụng linh hoạt để khắc họa vẻ đẹp bi tráng của họ.

Đến phần “Xót xa”, tiếng khóc đau thương, cao cả trước sự hy sinh của những người anh hùng áo vải lại vang lên. Đó là tiếng khóc thê lương của những người đứng bên bàn thờ, là tiếng khóc thương tiếc của những bà mẹ mất con, những người vợ mất chồng,… Nhưng những tiếng khóc đó thể hiện nỗi buồn chứ không phải nỗi buồn; bởi tiếng kêu đó không chỉ thể hiện sự tiếc thương mà còn có ý nghĩa khích lệ lòng căm thù giặc và ý chí tiếp tục sự nghiệp chống giặc ngoại xâm còn dang dở. Với nhịp điệu trầm lắng, đôi khi được kéo xuống như một lời than thở, những câu đối của cụ Đồ Chiểu thể hiện tiếng kêu đau nhưng không xót xa trước tượng đài người nông dân anh hùng. Dù hy sinh trên chiến trường nhưng tinh thần bất khuất và hành động ngoan cường của họ vẫn sống mãi với non sông đất nước.

Và cuối cùng, ở phần “Kết thúc”, sự hy sinh cao cả và tâm hồn bất tử của các liệt sĩ đã được tác giả ca ngợi và nhấn mạnh. Với một câu văn ngắn gọn được tạo dựng bằng bút pháp đối lập “Cơn lốc khói lửa / Ngàn năm lặng im”, hình tượng người anh hùng đã được tái hiện qua sự sáng chói của loại nhân cách “xuất sắc” trong phạm trù. thời gian “ngàn năm” vươn tới cái vĩnh hằng, tạo nên ý niệm sâu xa về sự trường sinh bất tử. Như vậy, qua tác phẩm này, chúng ta có thể thấy rằng đối với người nông dân anh hùng, chết không có nghĩa là hết là sự tiếp tục của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc hết sức thiêng liêng và cao cả với “hồn theo khí phách của nhân dân”. giúp quân ”,“ thác cũng đánh giặc ”,“ thác cũng thờ vua ”.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Huệ Chi từng đánh giá: “Không còn nghi ngờ gì nữa, hình tượng người nông dân trong thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu là một phát hiện mới và có giá trị. Đó là con người đã có từ lâu đời, nhưng chỉ thực sự nổi bật trong thời kỳ này. của lịch sử, khi anh hùng thời phong kiến tự rút lui khỏi vũ đài lịch sử. Dưới ngòi bút của Đồ Chiểu, đó là những con người “rất cũ mà cũng rất mới”. Ý kiến ​​trên đã thể hiện rõ nghĩa “nghĩa sĩ Cần Giuộc” trong việc tái hiện, khắc họa và xây dựng hình tượng người nông dân anh hùng. Bằng cách xây dựng tác phẩm theo kết cấu điển cố của một bài văn tế theo thể Đường luật, Nguyễn Đình Chiểu đã tạo nên một khúc tráng ca về những anh hùng liệt sĩ mà vẫn hào hoa, bất hủ, bi tráng và không tiếc lời. nỗi buồn.

—– Kết thúc —–

Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc là tác phẩm nổi bật trong chương trình Ngữ Văn lớp 11 của Nguyễn Đình Chiểu. Ngoài bài văn Phân tích nghĩa sĩ Cần Giuộc để làm rõ bài Văn tế nghĩa sĩ tuy thiệt thòi nhưng vẫn tự hào, các em có thể tìm hiểu thêm nhiều bài văn mẫu khác như: Phân tích giá trị nghệ thuật đặc sắc của bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, Phân tích bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, Cảm nhận về bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, Vẻ đẹp của hình tượng người nông dân trong Văn tế nghĩa sĩ Cần GiuộcTóm tắt bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc hay toàn bộ phần Soạn bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, …

Đăng bởi: hubm.edu.vn

Thể loại: Giáo dục


Thông tin cần xem thêm:

Phân tích bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc để làm rõ bài văn tế là bài ca của những người tuy mất nhưng vẫn tự hào.

Hình Ảnh về: Phân tích bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc để làm rõ bài văn tế là bài ca của những người tuy mất nhưng vẫn tự hào.

Video về: Phân tích bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc để làm rõ bài văn tế là bài ca của những người tuy mất nhưng vẫn tự hào.

Wiki về Phân tích bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc để làm rõ bài văn tế là bài ca của những người tuy mất nhưng vẫn tự hào.

Phân tích bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc để làm rõ bài văn tế là bài ca của những người tuy mất nhưng vẫn tự hào.

-

Chủ đề: Phân tích bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc để làm rõ bài văn tế là bài ca của những người tuy mất nhưng vẫn tự hào.

Phân tích công việc này cần phải làm cho đến nơi đến chốn, đó là công việc của những người rất tự hào về nó.

Bài văn mẫu chứng minh câu nói nghĩa sĩ Cần Giuộc để làm sáng tỏ bài Văn tế nghĩa sĩ tuy thiệt thòi nhưng vẫn tự hào.

Bạn đang xem: Phân tích bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc để làm rõ bài Văn tế nghĩa sĩ tuy thiệt thòi nhưng vẫn tự hào

Phân công:

Trong văn học trung đại Việt Nam, chúng ta đã thấy hình ảnh người nông dân với phong thái trang nghiêm qua bài ca dao “Đại náo thiên cung”: “An cư lạc nghiệp, nam nhân tứ trọng” (Eng. Cờ gậy, manh (dân cày và phân tán), tỷ lệ (người hầu ở) bốn phương tụ lại). Trong đoạn thơ, tác giả Nguyễn Trãi đã khẳng định vai trò, vị trí quan trọng của nông dân trong cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm là đề cao tư tưởng thân dân. Cho đến khi “Người nghĩa sĩ Cần Giuộc” của Nguyễn Đình Chiểu xuất hiện thì hình ảnh người nông dân giàu lòng nhân ái mới được khắc họa đầy đủ. Qua tác phẩm này, chúng ta thấy được những tượng đài bi tráng, bất tử về những anh hùng tuy mất đi tính mạng nhưng vẫn hiên ngang sừng sững.

Ngay từ phần mở đầu đã làm nổi bật bối cảnh thời cuộc và ý nghĩa cái chết bất tử của người nông dân và khẳng định: “Súng giặc ầm ầm, lòng dân lộ thiên”. Chỉ với tám chữ ngắn gọn, tác giả đã tái hiện thành công một thời đại bị giặc ngoại xâm lăng xăng, tủi nhục nhưng đồng thời cũng rất oai hùng, vĩ đại bởi lòng yêu nước kiên cường của nhân dân. ; gợi không khí khẩn trương, náo nhiệt. Trong bối cảnh đó, người nông dân hiện lên qua sự đối lập giữa cuộc sống thường nhật “mười năm vất vả” và hành động “đánh Tây một trận chính nghĩa” càng làm nổi bật lên ý nghĩa thiêng liêng, muôn thuở.

Ở phần tiếp theo, tác giả đã tái hiện một cách chân thực hình tượng người nông dân anh hùng thông qua việc nhắc lại công lao, đức tính của họ. Trước khi tham gia chiến đấu, họ chỉ là những người dân lao động bình thường, chất phác, giản dị, quanh năm lam lũ, vất vả với hành trình: “Mồ côi làm ăn, lo nghèo”, ngày ngày “chỉ biết ruộng trâu mà sống. ở làng quê ”và hoàn toàn xa lạ với công việc của những người lính:“ tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ, mắt chưa từng thấy ”. Phải chăng vì quá gắn bó với cánh đồng mênh mông và quê hương thân thuộc nên họ luôn nung nấu lòng căm thù giặc cướp. Khi hay tin kẻ thù có bước chân xâm phạm lãnh thổ của mình, người nông dân bằng lòng, tự giác đứng lên vì đại nghĩa: "Chờ ai hỏi ai mà bắt, lần này xin cố gắng thôi đánh nhau; chẳng thèm trốn chạy," để ẩn náu, chuyến đi này đã hướng đến những con hổ ”. Với tinh thần hăng hái, tự nguyện ấy, người nông dân áo vải xông pha trận mạc, bất ngờ đứng lên trở thành những anh hùng với tư thế hào hùng, oanh liệt trong “trận đánh Tây thắng lợi”. Chỉ với quần áo bằng vải, áo, ống hút, lưỡi phay, ... vô cùng thô sơ, nhưng với tinh thần chiến đấu sục sôi, quyết liệt, họ lao vào kẻ thù với hành động mạnh mẽ: “Kẻ đâm, chém ngược, làm tà ma, ám hồn; hè trước, hè sau, tàu sắt, tàu đồng súng nổ ”. Tác giả đã sử dụng phong cách hiện thực để miêu tả chân dung người nông dân anh hùng từ ngoại hình đến cuộc sống lao động, sinh hoạt hàng ngày. Bên cạnh đó, phong cách tương phản là cũng được sử dụng linh hoạt để khắc họa vẻ đẹp bi tráng của họ.

Đến phần “Xót xa”, tiếng khóc đau thương, cao cả trước sự hy sinh của những người anh hùng áo vải lại vang lên. Đó là tiếng khóc thê lương của những người đứng bên bàn thờ, là tiếng khóc thương tiếc của những bà mẹ mất con, những người vợ mất chồng,… Nhưng những tiếng khóc đó thể hiện nỗi buồn chứ không phải nỗi buồn; bởi tiếng kêu đó không chỉ thể hiện sự tiếc thương mà còn có ý nghĩa khích lệ lòng căm thù giặc và ý chí tiếp tục sự nghiệp chống giặc ngoại xâm còn dang dở. Với nhịp điệu trầm lắng, đôi khi được kéo xuống như một lời than thở, những câu đối của cụ Đồ Chiểu thể hiện tiếng kêu đau nhưng không xót xa trước tượng đài người nông dân anh hùng. Dù hy sinh trên chiến trường nhưng tinh thần bất khuất và hành động ngoan cường của họ vẫn sống mãi với non sông đất nước.

Và cuối cùng, ở phần “Kết thúc”, sự hy sinh cao cả và tâm hồn bất tử của các liệt sĩ đã được tác giả ca ngợi và nhấn mạnh. Với một câu văn ngắn gọn được tạo dựng bằng bút pháp đối lập “Cơn lốc khói lửa / Ngàn năm lặng im”, hình tượng người anh hùng đã được tái hiện qua sự sáng chói của loại nhân cách “xuất sắc” trong phạm trù. thời gian “ngàn năm” vươn tới cái vĩnh hằng, tạo nên ý niệm sâu xa về sự trường sinh bất tử. Như vậy, qua tác phẩm này, chúng ta có thể thấy rằng đối với người nông dân anh hùng, chết không có nghĩa là hết là sự tiếp tục của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc hết sức thiêng liêng và cao cả với “hồn theo khí phách của nhân dân”. giúp quân ”,“ thác cũng đánh giặc ”,“ thác cũng thờ vua ”.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Huệ Chi từng đánh giá: "Không còn nghi ngờ gì nữa, hình tượng người nông dân trong thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu là một phát hiện mới và có giá trị. Đó là con người đã có từ lâu đời, nhưng chỉ thực sự nổi bật trong thời kỳ này. của lịch sử, khi anh hùng thời phong kiến tự rút lui khỏi vũ đài lịch sử. Dưới ngòi bút của Đồ Chiểu, đó là những con người “rất cũ mà cũng rất mới”. Ý kiến ​​trên đã thể hiện rõ nghĩa “nghĩa sĩ Cần Giuộc” trong việc tái hiện, khắc họa và xây dựng hình tượng người nông dân anh hùng. Bằng cách xây dựng tác phẩm theo kết cấu điển cố của một bài văn tế theo thể Đường luật, Nguyễn Đình Chiểu đã tạo nên một khúc tráng ca về những anh hùng liệt sĩ mà vẫn hào hoa, bất hủ, bi tráng và không tiếc lời. nỗi buồn.

----- Kết thúc -----

Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc là tác phẩm nổi bật trong chương trình Ngữ Văn lớp 11 của Nguyễn Đình Chiểu. Ngoài bài văn Phân tích nghĩa sĩ Cần Giuộc để làm rõ bài Văn tế nghĩa sĩ tuy thiệt thòi nhưng vẫn tự hào, các em có thể tìm hiểu thêm nhiều bài văn mẫu khác như: Phân tích giá trị nghệ thuật đặc sắc của bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, Phân tích bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, Cảm nhận về bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, Vẻ đẹp của hình tượng người nông dân trong Văn tế nghĩa sĩ Cần GiuộcTóm tắt bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc hay toàn bộ phần Soạn bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, ...

Đăng bởi: hubm.edu.vn

Thể loại: Giáo dục

[rule_{ruleNumber}]

#Phân #tích #bài #Văn #tế #nghĩa #sĩ #Cần #Giuộc #để #làm #rõ #bài #văn #tế #là #bài #của #những #người #tuy #mất #nhưng #vẫn #tự #hào

[rule_3_plain]

#Phân #tích #bài #Văn #tế #nghĩa #sĩ #Cần #Giuộc #để #làm #rõ #bài #văn #tế #là #bài #của #những #người #tuy #mất #nhưng #vẫn #tự #hào

[rule_1_plain]

#Phân #tích #bài #Văn #tế #nghĩa #sĩ #Cần #Giuộc #để #làm #rõ #bài #văn #tế #là #bài #của #những #người #tuy #mất #nhưng #vẫn #tự #hào

[rule_2_plain]

#Phân #tích #bài #Văn #tế #nghĩa #sĩ #Cần #Giuộc #để #làm #rõ #bài #văn #tế #là #bài #của #những #người #tuy #mất #nhưng #vẫn #tự #hào

[rule_2_plain]

#Phân #tích #bài #Văn #tế #nghĩa #sĩ #Cần #Giuộc #để #làm #rõ #bài #văn #tế #là #bài #của #những #người #tuy #mất #nhưng #vẫn #tự #hào

[rule_3_plain]

#Phân #tích #bài #Văn #tế #nghĩa #sĩ #Cần #Giuộc #để #làm #rõ #bài #văn #tế #là #bài #của #những #người #tuy #mất #nhưng #vẫn #tự #hào

[rule_1_plain]

Bạn thấy bài viết Phân tích bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc để làm rõ bài văn tế là bài ca của những người tuy mất nhưng vẫn tự hào.

có giải quyết đươc vấn đề bạn tìm hiểu không?, nếu  không hãy comment góp ý thêm về Phân tích bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc để làm rõ bài văn tế là bài ca của những người tuy mất nhưng vẫn tự hào.

bên dưới để https://hubm.edu.vn/ có thể chỉnh sửa & cải thiện nội dung tốt hơn cho độc giả nhé! Cám ơn bạn đã ghé thăm Website https://hubm.edu.vn/

Nguồn: https://hubm.edu.vn/

#Phân #tích #bài #Văn #tế #nghĩa #sĩ #Cần #Giuộc #để #làm #rõ #bài #văn #tế #là #bài #của #những #người #tuy #mất #nhưng #vẫn #tự #hào

ĐH KD & CN Hà Nội

Trường Đại học Quản lý và Kinh doanh Hà nội là một trường dân lập, thuộc Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam, được phép thành lập theo Quyết định số 405/TTg, ngày 15/6/1996 của Thủ tướng Chính phủ. Trường chịu sự quản lý Nhà nước của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Hệ thống văn bằng của Trường nằm trong hệ thống văn bằng quốc gia. Ngày 15/09/2006 Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định số 750/QĐ-TTg về việc đổi tên trường thành Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button