Giáo Dục

Sơ lược tác phẩm Vợ Chồng A Phủ (hay nhất)

Tóm tắt Vợ Chồng A Phủ

1. Nguồn gốc – Hoàn cảnh ra đời

Vợ chồng A Phủ (1952) là một trong ba tác phẩm (Vợ chồng A Phủ, Mường Giôn và Cứu đất cứu Mường) được in trong tuyển tập Truyện cổ Tây Bắc.

– Tác phẩm là kết quả của chuyến đi cùng bộ đội giải phóng Tây Bắc năm 1952. Đây là chuyến đi thực tế kéo dài 8 tháng, sống với đồng bào các dân tộc từ vùng du kích núi cao đến các bản mới. sự giải phóng của nhà văn.

Vợ chồng A Phủ gồm hai phần, phần thứ nhất kể về cuộc đời của Mị và A Phủ ở Hồng Ngài, phần thứ hai kể về cuộc sống vợ chồng tham gia cách mạng của Mị và A Phủ ở Phiêng Sa. Đoạn trích là phần mở đầu của một truyện ngắn.

2. Tóm tắt câu chuyện

Tác phẩm kể về cuộc sống của vợ chồng Mị, Mị và A Phủ. Tôi là một cô gái trẻ, xinh đẹp. Nàng bị bắt về làm vợ A Sử – con trai thống lý Pá Tra để xóa nợ cho gia đình. Thời gian đầu mấy tháng nay cháu khóc đêm, định tự tử bằng cách ăn lá cây nhưng vì thương bố nên cháu không chết được. Tôi lại phải tiếp tục sống những ngày khốn khổ trong nhà thống đốc. Tôi chăm chỉ hơn trâu, ngựa và luôn “rút lui như rùa nuôi trong góc”. Mùa xuân đến, nghe tiếng sáo gọi người yêu thương nhớ mình còn nhỏ, muốn đi chơi nhưng bị A Sử bắt trói nhốt vào buồng tối.

A Phủ là một đứa trẻ mồ côi nghèo, khỏe mạnh, lao động tốt. Vì chống lại A Sử, chàng bị bắt, bị đánh đập, bị phạt tiền, trở thành đầy tớ không công cho nhà thống lí. Một lần, do hổ vồ mất con bò khi đang chăn thả ở bìa rừng, A Phủ bị thống lý trói đứng trong góc nhà. Lúc đầu nhìn cảnh đó tôi cũng bình tĩnh, nhưng rồi lòng thương và sự đồng cảm trỗi dậy, tôi đã cắt dây trói cho A Phủ và theo A Phủ trốn khỏi Hồng Ngải …


3. Nhân vật của tôi

3.1. Hình ảnh của tôi trong đoạn mở đầu câu chuyện

– Một cô gái lặng lẽ, cô đơn, sống như gắn bó với những vật vô tri, vô giác: “Ai từ xa về, có việc đến nhà thống lí Pá Tra thường thấy người con gái ngồi quay sợi gai bên tảng đá. đá trước cửa, cạnh tàu ngựa ”.

– Một cô con dâu của nhà thống lý quyền thế, giàu có “lắm tiền, nhiều của, nhiều thuốc phiện” trong làng nhưng luôn “cúi mặt”, “buồn rầu”.

-Hình ảnh em đối lập hoàn toàn với gia đình em đang sống, sự tương phản ấy báo hiệu một cuộc đời chông chênh, số phận rối ren và bi kịch của cõi người nơi núi cao Tây Bắc.

3.2. Cuộc đời, số phận và tính cách của nhân vật tôi

một. Trước hết, tôi là một cô gái có ngoại hình đẹp và nhiều đức tính tốt nên có thể sống một cuộc sống hạnh phúc:

+ Một cô gái trẻ xinh đẹp và tài năng thổi sáo.

+ Một cô gái chăm chỉ, sẵn sàng làm việc, không ngại khó.

+ Một cô gái yêu đời, yêu cuộc sống tự do, không tham lam của cải.

+ Một người con hiếu thảo.

Có thể khẳng định em là hình ảnh đẹp của thiếu nữ Tây Bắc. Ở Mỵ toát lên vẻ đẹp vừa chân chất, giản dị, vừa phóng khoáng, sâu lắng như chính thiên nhiên núi rừng miền Tây Tổ quốc. Tuy nhiên, trái ngược với những gì tôi đáng được nhận, bi kịch đã đến với tôi một cách tàn nhẫn bởi sức mạnh bạo lực và chế độ thần quyền theo phong tục.

b. Nàng Mị với kiếp “con dâu đòi nợ” nhà thống lý Pá Tra:

– “Con dâu lừa”:

Bề ngoài nàng là con dâu thảo vì là vợ của A Sử nhưng bên trong nàng chỉ là con nợ đòi nợ thuê để bù lại số tiền mà bố mẹ nàng đã vay của nhà thống lí Pá Tra nhưng không được. trả tiền. Điều đau đớn về tình trạng của tôi là: nếu tôi chỉ là một con nợ thay mặt cho cha mẹ tôi, tôi hoàn toàn có thể hy vọng một ngày nào đó sẽ được giải thoát sau khi món nợ đã được trả xong (bằng tiền, vật chất hoặc sức lao động). Nhưng Mị là con dâu, bị cướp về “cúng ma” nhà thống lý. Linh hồn tôi đã bị “con ma” đó “cai trị”. Cho đến cuối đời, dù đã trả xong món nợ, nhưng tôi sẽ không bao giờ được giải thoát, trở về cuộc sống tự do. Đây là bi kịch của cuộc đời tôi.

– Cuộc đời tôi ở nhà thống lí là một cuộc đời bi đát, khốn khó, sống mà như chết. Ở đó:

+ Tôi như bị tê liệt cả về tình yêu cuộc sống, tình yêu cuộc sống và tinh thần phản kháng.

+ Tôi chỉ là một công cụ lao động.

+ Thân phận tôi không bằng con trâu, con ngựa trong nhà.

+ Tôi lặng như một cái bóng.

+ Tôi như một tù nhân của địa ngục trần gian, tôi đã mất đi cảm giác sống.

Nhà văn không chỉ gián tiếp tố cáo sự áp bức, bóc lột của bọn địa chủ phong kiến ​​ở miền núi mà còn nói lên một sự thật đau xót: dưới ách cường quyền và hủ tục thần quyền, nhân dân lao động vùng núi Tây Bắc bị chà đạp dã man về tinh thần đến độ tê liệt ý thức sống, mất dần quan niệm sống, từ người có khát vọng sống mãnh liệt trở thành kẻ sống như chưa từng được sống. chết chóc, buồn tẻ và vô thức như những đồ vật trong nhà. Một sự hủy diệt kinh hoàng đối với ý thức sống của con người!

c. Sức sống tiềm tàng mãnh liệt (đêm tình xuân ở Hồng Ngải)

– Ảnh hưởng bên ngoài:

+ Trước hết là cảnh mùa xuân.

+ Tiếp đến là “tiếng ai thổi sáo rủ bạn đi chơi” – tiếng sáo gọi bạn tình “vọng” vào hồn ta và “kiếm ăn”.

+ Bữa cơm đón ma đón giao thừa rộn ràng tiếng “cồng chiêng, tiếng gáy”, rượu xong bữa cơm bên bếp lửa.

Những biểu hiện của ngoại cảnh đó không thể không ảnh hưởng đến Mị, đặc biệt là tiếng sáo. Vì ngày xưa Ta thổi sáo hay, được nhiều người yêu thích, ngày đêm thổi sáo theo Ta. Tiếng sáo gọi bạn tình, “tiếng sáo rủ bạn đi chơi” là tiếng hát của hạnh phúc, là biểu tượng của tình yêu lứa đôi. Nó đã xuyên qua hàng rào lạnh lẽo bên ngoài để “vọng” vào sâu thẳm tâm hồn tôi, đánh thức sức sống vẫn còn lưu giữ đâu đó trong trái tim người con gái Tây Bắc này.

– Phát triển tâm lý, hành động

+ Đầu tiên, tôi “ngồi im theo tiếng hát của người đang thổi”.

+ Trong không khí của đêm xuân ân tình, trong tình cảm nồng nàn của bữa cơm đêm giao thừa “Ta cũng uống rượu”.

+ Tôi “thấy tự do trở lại, lòng bỗng vui như những đêm giao thừa trước”. Tôi cảm thấy mình còn rất trẻ. Chúng tôi vẫn còn trẻ. Tôi muốn chơi.

+ Em cảm nhận rõ ràng hơn bao giờ hết sự vô nghĩa của cuộc sống hiện thực: “Nếu bây giờ tôi cầm cái móng tay, tôi sẽ ăn nó chết ngay, không thèm nhớ lại”.

+ “Trong đầu tôi đang thổi sáo”. Tiếng sáo như thôi thúc tôi “quấn lấy mái tóc”, “với lấy chiếc váy hoa vắt bên trong vách” để “đi chơi”. Những biến động mạnh mẽ trong tâm hồn tôi đã chuyển thành hành động thực tế, và hành động này dẫn đến những hành động không thể ngăn cản sau đó.

Rõ ràng, khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc vẫn còn lưu giữ đâu đó trong sâu thẳm tâm hồn nhân vật Mị. Nó giống như một hòn than vẫn còn cháy âm ỉ dưới một lớp tro nguội, và chỉ cần một cơn gió thổi qua là nó sẽ bốc cháy. Những tác động của ngoại cảnh không hề nhỏ, nhưng sức mạnh tiềm ẩn, khó dập tắt của con người chính là chìa khóa quyết định sức sống của Ta và mỗi cá nhân.

d. Sự phản kháng khôn lường (hành động cởi dây trói của A Phủ)

Dù bị vùi dập tàn nhẫn nhưng không vì thế mà khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc của tôi bị tiêu tan. Ngược lại, trong những hoàn cảnh đặc biệt, nó thậm chí còn nổi lên mạnh mẽ và biến thành sự phản kháng táo bạo. Có thể thấy rõ điều đó qua diễn biến tâm lý và hành động của Mị trong đêm cứu A Phủ rồi cùng chàng bỏ trốn khỏi Hồng Ngải:

+ Lúc đầu, trước cảnh A Phủ bị trói, tôi hoàn toàn thờ ơ.

+ Nhưng rồi khi nhìn những giọt nước mắt chảy dài trên gò má sạm đen của A Phủ, ta lại đồng cảm, thương mình và thương người khác.

+ Thương mình, thương người, càng nhận ra tội ác của cha con nhà thống lí.

+ Dù trong lòng vẫn còn nỗi sợ hãi nhưng đã cứu A Phủ và cùng A Phủ bỏ trốn khỏi Hồng Ngải.

Đây là hệ quả tất yếu của những gì đã xảy ra ở My. Từ đêm tình mùa xuân ở Hồng Ngải đến đêm cứu A Phủ là hành trình tìm lại chính mình, giải thoát khỏi “gông cùm” của cả cường quyền bạo tàn và chế độ thần quyền lạc hậu. Đó cũng là lời khẳng định ý nghĩa cuộc sống và khát vọng tự do cháy bỏng của nhân dân lao động Tây Bắc.

4. Nhân vật A Phủ

4.1. Một số phận nghiệt ngã

– Trẻ mồ côi sớm (bố mẹ chết trong trận dịch đậu mùa).

– Nghèo, không lấy được vợ vì lệ làng, phong tục cưới xin khắt khe.

4.2. Một cá tính mạnh mẽ, một hình ảnh đẹp của người lao động núi rừng Tây Bắc

Có ý chí và nghị lực sống, A Phủ đã vượt qua mọi gian khổ để trở thành chàng trai Mông khỏe mạnh, tháo vát, trở thành niềm mơ ước của bao cô gái trong bản.

– Dũng cảm từ nhỏ, ham lao động, A Phủ không ngại công việc nặng nhọc, khó khăn, nguy hiểm.

– Không sợ cường quyền, sẵn sàng trừng trị kẻ xấu.

– Khát vọng sống, yêu tự do, có sức sống tiềm tàng mãnh liệt.

4.3. Một nạn nhân của giai cấp thống trị phong kiến ​​miền núi tàn bạo

– Chỉ vì đánh quan mà bị phạt nặng, bị làng “buôn”, trở thành kiểu “nô bộc” trong nhà thống lý Pá Tra.

– Chỉ vì hổ bắt bò mà bị hai cha con bắt trói, tra tấn dã man mà có thể phải trả giá bằng mạng sống.
Nhân vật A Phủ vừa là bằng chứng sống động về tội ác của giai cấp thống trị ở miền núi Tây Bắc vừa là hình ảnh đẹp đẽ, tiêu biểu của nhân dân lao động ở một vùng núi cao nước ta.

5. Giá trị hiện thực và nhân đạo của tác phẩm

5.1. Giá trị thực

– Truyện miêu tả chân thực số phận nô lệ khốn khổ của người dân lao động nghèo Tây Bắc dưới ách thống trị của bọn phong kiến ​​miền sơn cước (trích Mị, A Phủ).

– Truyện vạch trần bản chất tàn bạo của giai cấp phong kiến ​​thống trị ở miền núi (kể về cha con thống lí Pá Tra).

– Truyện tái hiện sinh động vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên và phong tục tập quán của người dân miền núi Tây Bắc (cảnh mùa xuân, phiên toà A Phủ).

5.2. Giá trị nhân đạo

– Câu chuyện thể hiện tình yêu thương, niềm cảm thông sâu sắc đối với thân phận khốn khó của những người lao động nghèo nơi miền núi (dẫn chứng là các nhân vật Mị, A Phủ).

– Phê phán những thế lực chà đạp con người (cường quyền, thần quyền).

Truyện khẳng định niềm tin vào vẻ đẹp tâm hồn, sức sống mãnh liệt và khát vọng hạnh phúc cháy bỏng của con người. Dù trong hoàn cảnh khắc nghiệt đến đâu, con người cũng không đánh mất khát vọng được sống tự do, hạnh phúc (Dẫn chứng nhân vật Mị trong đêm tình mùa xuân cởi trói cho A Phủ).

– Qua câu chuyện, nhà văn đã chỉ ra cho người dân miền núi Tây Bắc nói riêng những số phận khốn khó nói chung, con đường tự giải thoát khỏi những bất công, con đường làm chủ số phận của mình (x. Xúc động cởi trói cho A Phủ, và cùng A Phủ trốn khỏi Hồng Ngải).

6. Đặc điểm nghệ thuật

một. Nghệ thuật kể chuyện

– Cách giới thiệu nhân vật đầy bất ngờ, tự nhiên và ấn tượng. Cách dẫn dắt tình tiết thông minh khiến mạch truyện phát triển và diễn biến liên tục, thay đổi hấp dẫn mà không bị rối, trùng lặp.

– Ngôn ngữ kể chuyện sinh động, chọn lọc, sáng tạo, phong cách tạo hình phong phú thấm đẫm chất thơ.

b. Nghệ thuật miêu tả tâm lí và phát triển tính cách nhân vật

– Nhà văn ít miêu tả hành động mà chủ yếu miêu tả suy nghĩ, đôi khi chỉ là những ý nghĩ chập chờn trong tiềm thức của nhân vật.

c. Nghệ thuật cảnh độc đáo

– Cảnh thiên nhiên thơ mộng được miêu tả bằng ngôn ngữ thơ mộng và tượng hình (cảnh mùa xuân trên núi Hồng Ngải).

– Cảnh núi rừng với những phong tục, sinh hoạt riêng, sinh động (Cảnh đêm tình mùa xuân, cảnh cúng ma, cảnh kiện tụng).

7. Chủ đề

Tác phẩm đặt ra vấn đề về số phận của con người – những con người dưới đáy xã hội – những con người bị tước đoạt hết tài sản, bóc lột sức lao động và bị xúc phạm nặng nề về nhân phẩm. Giải quyết vấn đề số phận con người, Tô Hoài đã đánh thức họ, đưa họ đến với cách mạng và cho họ một cuộc sống mới.

Sau đây là Tóm tắt Vợ Chồng A Phủ làm Trường ĐH KD & CN Hà Nội Sưu tầm và tổng hợp, mong rằng với nội dung tài liệu tham khảo này sẽ giúp các bạn hoàn thành bài văn của mình một cách tốt nhất!

Đăng bởi: Trường ĐH KD & CN Hà Nội

Chuyên mục: Văn lớp 12, Ngữ văn 12

Thông tin cần xem thêm:

Hình Ảnh về Sơ lược tác phẩm Vợ Chồng A Phủ

(hay nhất)

Video về Sơ lược tác phẩm Vợ Chồng A Phủ

(hay nhất)

Wiki về Sơ lược tác phẩm Vợ Chồng A Phủ

(hay nhất)

Sơ lược tác phẩm Vợ Chồng A Phủ

(hay nhất)

Sơ lược tác phẩm Vợ Chồng A Phủ

(hay nhất) -

Tóm tắt Vợ Chồng A Phủ

1. Nguồn gốc - Hoàn cảnh ra đời

Vợ chồng A Phủ (1952) là một trong ba tác phẩm (Vợ chồng A Phủ, Mường Giôn và Cứu đất cứu Mường) được in trong tuyển tập Truyện cổ Tây Bắc.

- Tác phẩm là kết quả của chuyến đi cùng bộ đội giải phóng Tây Bắc năm 1952. Đây là chuyến đi thực tế kéo dài 8 tháng, sống với đồng bào các dân tộc từ vùng du kích núi cao đến các bản mới. sự giải phóng của nhà văn.

Vợ chồng A Phủ gồm hai phần, phần thứ nhất kể về cuộc đời của Mị và A Phủ ở Hồng Ngài, phần thứ hai kể về cuộc sống vợ chồng tham gia cách mạng của Mị và A Phủ ở Phiêng Sa. Đoạn trích là phần mở đầu của một truyện ngắn.

2. Tóm tắt câu chuyện

Tác phẩm kể về cuộc sống của vợ chồng Mị, Mị và A Phủ. Tôi là một cô gái trẻ, xinh đẹp. Nàng bị bắt về làm vợ A Sử - con trai thống lý Pá Tra để xóa nợ cho gia đình. Thời gian đầu mấy tháng nay cháu khóc đêm, định tự tử bằng cách ăn lá cây nhưng vì thương bố nên cháu không chết được. Tôi lại phải tiếp tục sống những ngày khốn khổ trong nhà thống đốc. Tôi chăm chỉ hơn trâu, ngựa và luôn "rút lui như rùa nuôi trong góc". Mùa xuân đến, nghe tiếng sáo gọi người yêu thương nhớ mình còn nhỏ, muốn đi chơi nhưng bị A Sử bắt trói nhốt vào buồng tối.

A Phủ là một đứa trẻ mồ côi nghèo, khỏe mạnh, lao động tốt. Vì chống lại A Sử, chàng bị bắt, bị đánh đập, bị phạt tiền, trở thành đầy tớ không công cho nhà thống lí. Một lần, do hổ vồ mất con bò khi đang chăn thả ở bìa rừng, A Phủ bị thống lý trói đứng trong góc nhà. Lúc đầu nhìn cảnh đó tôi cũng bình tĩnh, nhưng rồi lòng thương và sự đồng cảm trỗi dậy, tôi đã cắt dây trói cho A Phủ và theo A Phủ trốn khỏi Hồng Ngải ...


3. Nhân vật của tôi

3.1. Hình ảnh của tôi trong đoạn mở đầu câu chuyện

- Một cô gái lặng lẽ, cô đơn, sống như gắn bó với những vật vô tri, vô giác: “Ai từ xa về, có việc đến nhà thống lí Pá Tra thường thấy người con gái ngồi quay sợi gai bên tảng đá. đá trước cửa, cạnh tàu ngựa ”.

- Một cô con dâu của nhà thống lý quyền thế, giàu có “lắm tiền, nhiều của, nhiều thuốc phiện” trong làng nhưng luôn “cúi mặt”, “buồn rầu”.

-Hình ảnh em đối lập hoàn toàn với gia đình em đang sống, sự tương phản ấy báo hiệu một cuộc đời chông chênh, số phận rối ren và bi kịch của cõi người nơi núi cao Tây Bắc.

3.2. Cuộc đời, số phận và tính cách của nhân vật tôi

một. Trước hết, tôi là một cô gái có ngoại hình đẹp và nhiều đức tính tốt nên có thể sống một cuộc sống hạnh phúc:

+ Một cô gái trẻ xinh đẹp và tài năng thổi sáo.

+ Một cô gái chăm chỉ, sẵn sàng làm việc, không ngại khó.

+ Một cô gái yêu đời, yêu cuộc sống tự do, không tham lam của cải.

+ Một người con hiếu thảo.

Có thể khẳng định em là hình ảnh đẹp của thiếu nữ Tây Bắc. Ở Mỵ toát lên vẻ đẹp vừa chân chất, giản dị, vừa phóng khoáng, sâu lắng như chính thiên nhiên núi rừng miền Tây Tổ quốc. Tuy nhiên, trái ngược với những gì tôi đáng được nhận, bi kịch đã đến với tôi một cách tàn nhẫn bởi sức mạnh bạo lực và chế độ thần quyền theo phong tục.

b. Nàng Mị với kiếp “con dâu đòi nợ” nhà thống lý Pá Tra:

- "Con dâu lừa":

Bề ngoài nàng là con dâu thảo vì là vợ của A Sử nhưng bên trong nàng chỉ là con nợ đòi nợ thuê để bù lại số tiền mà bố mẹ nàng đã vay của nhà thống lí Pá Tra nhưng không được. trả tiền. Điều đau đớn về tình trạng của tôi là: nếu tôi chỉ là một con nợ thay mặt cho cha mẹ tôi, tôi hoàn toàn có thể hy vọng một ngày nào đó sẽ được giải thoát sau khi món nợ đã được trả xong (bằng tiền, vật chất hoặc sức lao động). Nhưng Mị là con dâu, bị cướp về “cúng ma” nhà thống lý. Linh hồn tôi đã bị "con ma" đó "cai trị". Cho đến cuối đời, dù đã trả xong món nợ, nhưng tôi sẽ không bao giờ được giải thoát, trở về cuộc sống tự do. Đây là bi kịch của cuộc đời tôi.

- Cuộc đời tôi ở nhà thống lí là một cuộc đời bi đát, khốn khó, sống mà như chết. Ở đó:

+ Tôi như bị tê liệt cả về tình yêu cuộc sống, tình yêu cuộc sống và tinh thần phản kháng.

+ Tôi chỉ là một công cụ lao động.

+ Thân phận tôi không bằng con trâu, con ngựa trong nhà.

+ Tôi lặng như một cái bóng.

+ Tôi như một tù nhân của địa ngục trần gian, tôi đã mất đi cảm giác sống.

Nhà văn không chỉ gián tiếp tố cáo sự áp bức, bóc lột của bọn địa chủ phong kiến ​​ở miền núi mà còn nói lên một sự thật đau xót: dưới ách cường quyền và hủ tục thần quyền, nhân dân lao động vùng núi Tây Bắc bị chà đạp dã man về tinh thần đến độ tê liệt ý thức sống, mất dần quan niệm sống, từ người có khát vọng sống mãnh liệt trở thành kẻ sống như chưa từng được sống. chết chóc, buồn tẻ và vô thức như những đồ vật trong nhà. Một sự hủy diệt kinh hoàng đối với ý thức sống của con người!

c. Sức sống tiềm tàng mãnh liệt (đêm tình xuân ở Hồng Ngải)

- Ảnh hưởng bên ngoài:

+ Trước hết là cảnh mùa xuân.

+ Tiếp đến là “tiếng ai thổi sáo rủ bạn đi chơi” - tiếng sáo gọi bạn tình “vọng” vào hồn ta và “kiếm ăn”.

+ Bữa cơm đón ma đón giao thừa rộn ràng tiếng “cồng chiêng, tiếng gáy”, rượu xong bữa cơm bên bếp lửa.

Những biểu hiện của ngoại cảnh đó không thể không ảnh hưởng đến Mị, đặc biệt là tiếng sáo. Vì ngày xưa Ta thổi sáo hay, được nhiều người yêu thích, ngày đêm thổi sáo theo Ta. Tiếng sáo gọi bạn tình, “tiếng sáo rủ bạn đi chơi” là tiếng hát của hạnh phúc, là biểu tượng của tình yêu lứa đôi. Nó đã xuyên qua hàng rào lạnh lẽo bên ngoài để “vọng” vào sâu thẳm tâm hồn tôi, đánh thức sức sống vẫn còn lưu giữ đâu đó trong trái tim người con gái Tây Bắc này.

- Phát triển tâm lý, hành động

+ Đầu tiên, tôi “ngồi im theo tiếng hát của người đang thổi”.

+ Trong không khí của đêm xuân ân tình, trong tình cảm nồng nàn của bữa cơm đêm giao thừa “Ta cũng uống rượu”.

+ Tôi “thấy tự do trở lại, lòng bỗng vui như những đêm giao thừa trước”. Tôi cảm thấy mình còn rất trẻ. Chúng tôi vẫn còn trẻ. Tôi muốn chơi.

+ Em cảm nhận rõ ràng hơn bao giờ hết sự vô nghĩa của cuộc sống hiện thực: “Nếu bây giờ tôi cầm cái móng tay, tôi sẽ ăn nó chết ngay, không thèm nhớ lại”.

+ "Trong đầu tôi đang thổi sáo". Tiếng sáo như thôi thúc tôi “quấn lấy mái tóc”, “với lấy chiếc váy hoa vắt bên trong vách” để “đi chơi”. Những biến động mạnh mẽ trong tâm hồn tôi đã chuyển thành hành động thực tế, và hành động này dẫn đến những hành động không thể ngăn cản sau đó.

Rõ ràng, khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc vẫn còn lưu giữ đâu đó trong sâu thẳm tâm hồn nhân vật Mị. Nó giống như một hòn than vẫn còn cháy âm ỉ dưới một lớp tro nguội, và chỉ cần một cơn gió thổi qua là nó sẽ bốc cháy. Những tác động của ngoại cảnh không hề nhỏ, nhưng sức mạnh tiềm ẩn, khó dập tắt của con người chính là chìa khóa quyết định sức sống của Ta và mỗi cá nhân.

d. Sự phản kháng khôn lường (hành động cởi dây trói của A Phủ)

Dù bị vùi dập tàn nhẫn nhưng không vì thế mà khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc của tôi bị tiêu tan. Ngược lại, trong những hoàn cảnh đặc biệt, nó thậm chí còn nổi lên mạnh mẽ và biến thành sự phản kháng táo bạo. Có thể thấy rõ điều đó qua diễn biến tâm lý và hành động của Mị trong đêm cứu A Phủ rồi cùng chàng bỏ trốn khỏi Hồng Ngải:

+ Lúc đầu, trước cảnh A Phủ bị trói, tôi hoàn toàn thờ ơ.

+ Nhưng rồi khi nhìn những giọt nước mắt chảy dài trên gò má sạm đen của A Phủ, ta lại đồng cảm, thương mình và thương người khác.

+ Thương mình, thương người, càng nhận ra tội ác của cha con nhà thống lí.

+ Dù trong lòng vẫn còn nỗi sợ hãi nhưng đã cứu A Phủ và cùng A Phủ bỏ trốn khỏi Hồng Ngải.

Đây là hệ quả tất yếu của những gì đã xảy ra ở My. Từ đêm tình mùa xuân ở Hồng Ngải đến đêm cứu A Phủ là hành trình tìm lại chính mình, giải thoát khỏi “gông cùm” của cả cường quyền bạo tàn và chế độ thần quyền lạc hậu. Đó cũng là lời khẳng định ý nghĩa cuộc sống và khát vọng tự do cháy bỏng của nhân dân lao động Tây Bắc.

4. Nhân vật A Phủ

4.1. Một số phận nghiệt ngã

- Trẻ mồ côi sớm (bố mẹ chết trong trận dịch đậu mùa).

- Nghèo, không lấy được vợ vì lệ làng, phong tục cưới xin khắt khe.

4.2. Một cá tính mạnh mẽ, một hình ảnh đẹp của người lao động núi rừng Tây Bắc

Có ý chí và nghị lực sống, A Phủ đã vượt qua mọi gian khổ để trở thành chàng trai Mông khỏe mạnh, tháo vát, trở thành niềm mơ ước của bao cô gái trong bản.

- Dũng cảm từ nhỏ, ham lao động, A Phủ không ngại công việc nặng nhọc, khó khăn, nguy hiểm.

- Không sợ cường quyền, sẵn sàng trừng trị kẻ xấu.

- Khát vọng sống, yêu tự do, có sức sống tiềm tàng mãnh liệt.

4.3. Một nạn nhân của giai cấp thống trị phong kiến ​​miền núi tàn bạo

- Chỉ vì đánh quan mà bị phạt nặng, bị làng “buôn”, trở thành kiểu “nô bộc” trong nhà thống lý Pá Tra.

- Chỉ vì hổ bắt bò mà bị hai cha con bắt trói, tra tấn dã man mà có thể phải trả giá bằng mạng sống.
Nhân vật A Phủ vừa là bằng chứng sống động về tội ác của giai cấp thống trị ở miền núi Tây Bắc vừa là hình ảnh đẹp đẽ, tiêu biểu của nhân dân lao động ở một vùng núi cao nước ta.

5. Giá trị hiện thực và nhân đạo của tác phẩm

5.1. Giá trị thực

- Truyện miêu tả chân thực số phận nô lệ khốn khổ của người dân lao động nghèo Tây Bắc dưới ách thống trị của bọn phong kiến ​​miền sơn cước (trích Mị, A Phủ).

- Truyện vạch trần bản chất tàn bạo của giai cấp phong kiến ​​thống trị ở miền núi (kể về cha con thống lí Pá Tra).

- Truyện tái hiện sinh động vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên và phong tục tập quán của người dân miền núi Tây Bắc (cảnh mùa xuân, phiên toà A Phủ).

5.2. Giá trị nhân đạo

- Câu chuyện thể hiện tình yêu thương, niềm cảm thông sâu sắc đối với thân phận khốn khó của những người lao động nghèo nơi miền núi (dẫn chứng là các nhân vật Mị, A Phủ).

- Phê phán những thế lực chà đạp con người (cường quyền, thần quyền).

Truyện khẳng định niềm tin vào vẻ đẹp tâm hồn, sức sống mãnh liệt và khát vọng hạnh phúc cháy bỏng của con người. Dù trong hoàn cảnh khắc nghiệt đến đâu, con người cũng không đánh mất khát vọng được sống tự do, hạnh phúc (Dẫn chứng nhân vật Mị trong đêm tình mùa xuân cởi trói cho A Phủ).

- Qua câu chuyện, nhà văn đã chỉ ra cho người dân miền núi Tây Bắc nói riêng những số phận khốn khó nói chung, con đường tự giải thoát khỏi những bất công, con đường làm chủ số phận của mình (x. Xúc động cởi trói cho A Phủ, và cùng A Phủ trốn khỏi Hồng Ngải).

6. Đặc điểm nghệ thuật

một. Nghệ thuật kể chuyện

- Cách giới thiệu nhân vật đầy bất ngờ, tự nhiên và ấn tượng. Cách dẫn dắt tình tiết thông minh khiến mạch truyện phát triển và diễn biến liên tục, thay đổi hấp dẫn mà không bị rối, trùng lặp.

- Ngôn ngữ kể chuyện sinh động, chọn lọc, sáng tạo, phong cách tạo hình phong phú thấm đẫm chất thơ.

b. Nghệ thuật miêu tả tâm lí và phát triển tính cách nhân vật

- Nhà văn ít miêu tả hành động mà chủ yếu miêu tả suy nghĩ, đôi khi chỉ là những ý nghĩ chập chờn trong tiềm thức của nhân vật.

c. Nghệ thuật cảnh độc đáo

- Cảnh thiên nhiên thơ mộng được miêu tả bằng ngôn ngữ thơ mộng và tượng hình (cảnh mùa xuân trên núi Hồng Ngải).

- Cảnh núi rừng với những phong tục, sinh hoạt riêng, sinh động (Cảnh đêm tình mùa xuân, cảnh cúng ma, cảnh kiện tụng).

7. Chủ đề

Tác phẩm đặt ra vấn đề về số phận của con người - những con người dưới đáy xã hội - những con người bị tước đoạt hết tài sản, bóc lột sức lao động và bị xúc phạm nặng nề về nhân phẩm. Giải quyết vấn đề số phận con người, Tô Hoài đã đánh thức họ, đưa họ đến với cách mạng và cho họ một cuộc sống mới.

Sau đây là Tóm tắt Vợ Chồng A Phủ làm Trường ĐH KD & CN Hà Nội Sưu tầm và tổng hợp, mong rằng với nội dung tài liệu tham khảo này sẽ giúp các bạn hoàn thành bài văn của mình một cách tốt nhất!

Đăng bởi: Trường ĐH KD & CN Hà Nội

Chuyên mục: Văn lớp 12, Ngữ văn 12

[rule_{ruleNumber}]

Tóm tắt Vợ Chồng A Phủ

1. Nguồn gốc – Hoàn cảnh ra đời

Vợ chồng A Phủ (1952) là một trong ba tác phẩm (Vợ chồng A Phủ, Mường Giôn và Cứu đất cứu Mường) được in trong tuyển tập Truyện cổ Tây Bắc.

– Tác phẩm là kết quả của chuyến đi cùng bộ đội giải phóng Tây Bắc năm 1952. Đây là chuyến đi thực tế kéo dài 8 tháng, sống với đồng bào các dân tộc từ vùng du kích núi cao đến các bản mới. sự giải phóng của nhà văn.

Vợ chồng A Phủ gồm hai phần, phần thứ nhất kể về cuộc đời của Mị và A Phủ ở Hồng Ngài, phần thứ hai kể về cuộc sống vợ chồng tham gia cách mạng của Mị và A Phủ ở Phiêng Sa. Đoạn trích là phần mở đầu của một truyện ngắn.

2. Tóm tắt câu chuyện

Tác phẩm kể về cuộc sống của vợ chồng Mị, Mị và A Phủ. Tôi là một cô gái trẻ, xinh đẹp. Nàng bị bắt về làm vợ A Sử – con trai thống lý Pá Tra để xóa nợ cho gia đình. Thời gian đầu mấy tháng nay cháu khóc đêm, định tự tử bằng cách ăn lá cây nhưng vì thương bố nên cháu không chết được. Tôi lại phải tiếp tục sống những ngày khốn khổ trong nhà thống đốc. Tôi chăm chỉ hơn trâu, ngựa và luôn “rút lui như rùa nuôi trong góc”. Mùa xuân đến, nghe tiếng sáo gọi người yêu thương nhớ mình còn nhỏ, muốn đi chơi nhưng bị A Sử bắt trói nhốt vào buồng tối.

A Phủ là một đứa trẻ mồ côi nghèo, khỏe mạnh, lao động tốt. Vì chống lại A Sử, chàng bị bắt, bị đánh đập, bị phạt tiền, trở thành đầy tớ không công cho nhà thống lí. Một lần, do hổ vồ mất con bò khi đang chăn thả ở bìa rừng, A Phủ bị thống lý trói đứng trong góc nhà. Lúc đầu nhìn cảnh đó tôi cũng bình tĩnh, nhưng rồi lòng thương và sự đồng cảm trỗi dậy, tôi đã cắt dây trói cho A Phủ và theo A Phủ trốn khỏi Hồng Ngải …


3. Nhân vật của tôi

3.1. Hình ảnh của tôi trong đoạn mở đầu câu chuyện

– Một cô gái lặng lẽ, cô đơn, sống như gắn bó với những vật vô tri, vô giác: “Ai từ xa về, có việc đến nhà thống lí Pá Tra thường thấy người con gái ngồi quay sợi gai bên tảng đá. đá trước cửa, cạnh tàu ngựa ”.

– Một cô con dâu của nhà thống lý quyền thế, giàu có “lắm tiền, nhiều của, nhiều thuốc phiện” trong làng nhưng luôn “cúi mặt”, “buồn rầu”.

-Hình ảnh em đối lập hoàn toàn với gia đình em đang sống, sự tương phản ấy báo hiệu một cuộc đời chông chênh, số phận rối ren và bi kịch của cõi người nơi núi cao Tây Bắc.

3.2. Cuộc đời, số phận và tính cách của nhân vật tôi

một. Trước hết, tôi là một cô gái có ngoại hình đẹp và nhiều đức tính tốt nên có thể sống một cuộc sống hạnh phúc:

+ Một cô gái trẻ xinh đẹp và tài năng thổi sáo.

+ Một cô gái chăm chỉ, sẵn sàng làm việc, không ngại khó.

+ Một cô gái yêu đời, yêu cuộc sống tự do, không tham lam của cải.

+ Một người con hiếu thảo.

Có thể khẳng định em là hình ảnh đẹp của thiếu nữ Tây Bắc. Ở Mỵ toát lên vẻ đẹp vừa chân chất, giản dị, vừa phóng khoáng, sâu lắng như chính thiên nhiên núi rừng miền Tây Tổ quốc. Tuy nhiên, trái ngược với những gì tôi đáng được nhận, bi kịch đã đến với tôi một cách tàn nhẫn bởi sức mạnh bạo lực và chế độ thần quyền theo phong tục.

b. Nàng Mị với kiếp “con dâu đòi nợ” nhà thống lý Pá Tra:

– “Con dâu lừa”:

Bề ngoài nàng là con dâu thảo vì là vợ của A Sử nhưng bên trong nàng chỉ là con nợ đòi nợ thuê để bù lại số tiền mà bố mẹ nàng đã vay của nhà thống lí Pá Tra nhưng không được. trả tiền. Điều đau đớn về tình trạng của tôi là: nếu tôi chỉ là một con nợ thay mặt cho cha mẹ tôi, tôi hoàn toàn có thể hy vọng một ngày nào đó sẽ được giải thoát sau khi món nợ đã được trả xong (bằng tiền, vật chất hoặc sức lao động). Nhưng Mị là con dâu, bị cướp về “cúng ma” nhà thống lý. Linh hồn tôi đã bị “con ma” đó “cai trị”. Cho đến cuối đời, dù đã trả xong món nợ, nhưng tôi sẽ không bao giờ được giải thoát, trở về cuộc sống tự do. Đây là bi kịch của cuộc đời tôi.

– Cuộc đời tôi ở nhà thống lí là một cuộc đời bi đát, khốn khó, sống mà như chết. Ở đó:

+ Tôi như bị tê liệt cả về tình yêu cuộc sống, tình yêu cuộc sống và tinh thần phản kháng.

+ Tôi chỉ là một công cụ lao động.

+ Thân phận tôi không bằng con trâu, con ngựa trong nhà.

+ Tôi lặng như một cái bóng.

+ Tôi như một tù nhân của địa ngục trần gian, tôi đã mất đi cảm giác sống.

Nhà văn không chỉ gián tiếp tố cáo sự áp bức, bóc lột của bọn địa chủ phong kiến ​​ở miền núi mà còn nói lên một sự thật đau xót: dưới ách cường quyền và hủ tục thần quyền, nhân dân lao động vùng núi Tây Bắc bị chà đạp dã man về tinh thần đến độ tê liệt ý thức sống, mất dần quan niệm sống, từ người có khát vọng sống mãnh liệt trở thành kẻ sống như chưa từng được sống. chết chóc, buồn tẻ và vô thức như những đồ vật trong nhà. Một sự hủy diệt kinh hoàng đối với ý thức sống của con người!

c. Sức sống tiềm tàng mãnh liệt (đêm tình xuân ở Hồng Ngải)

– Ảnh hưởng bên ngoài:

+ Trước hết là cảnh mùa xuân.

+ Tiếp đến là “tiếng ai thổi sáo rủ bạn đi chơi” – tiếng sáo gọi bạn tình “vọng” vào hồn ta và “kiếm ăn”.

+ Bữa cơm đón ma đón giao thừa rộn ràng tiếng “cồng chiêng, tiếng gáy”, rượu xong bữa cơm bên bếp lửa.

Những biểu hiện của ngoại cảnh đó không thể không ảnh hưởng đến Mị, đặc biệt là tiếng sáo. Vì ngày xưa Ta thổi sáo hay, được nhiều người yêu thích, ngày đêm thổi sáo theo Ta. Tiếng sáo gọi bạn tình, “tiếng sáo rủ bạn đi chơi” là tiếng hát của hạnh phúc, là biểu tượng của tình yêu lứa đôi. Nó đã xuyên qua hàng rào lạnh lẽo bên ngoài để “vọng” vào sâu thẳm tâm hồn tôi, đánh thức sức sống vẫn còn lưu giữ đâu đó trong trái tim người con gái Tây Bắc này.

– Phát triển tâm lý, hành động

+ Đầu tiên, tôi “ngồi im theo tiếng hát của người đang thổi”.

+ Trong không khí của đêm xuân ân tình, trong tình cảm nồng nàn của bữa cơm đêm giao thừa “Ta cũng uống rượu”.

+ Tôi “thấy tự do trở lại, lòng bỗng vui như những đêm giao thừa trước”. Tôi cảm thấy mình còn rất trẻ. Chúng tôi vẫn còn trẻ. Tôi muốn chơi.

+ Em cảm nhận rõ ràng hơn bao giờ hết sự vô nghĩa của cuộc sống hiện thực: “Nếu bây giờ tôi cầm cái móng tay, tôi sẽ ăn nó chết ngay, không thèm nhớ lại”.

+ “Trong đầu tôi đang thổi sáo”. Tiếng sáo như thôi thúc tôi “quấn lấy mái tóc”, “với lấy chiếc váy hoa vắt bên trong vách” để “đi chơi”. Những biến động mạnh mẽ trong tâm hồn tôi đã chuyển thành hành động thực tế, và hành động này dẫn đến những hành động không thể ngăn cản sau đó.

Rõ ràng, khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc vẫn còn lưu giữ đâu đó trong sâu thẳm tâm hồn nhân vật Mị. Nó giống như một hòn than vẫn còn cháy âm ỉ dưới một lớp tro nguội, và chỉ cần một cơn gió thổi qua là nó sẽ bốc cháy. Những tác động của ngoại cảnh không hề nhỏ, nhưng sức mạnh tiềm ẩn, khó dập tắt của con người chính là chìa khóa quyết định sức sống của Ta và mỗi cá nhân.

d. Sự phản kháng khôn lường (hành động cởi dây trói của A Phủ)

Dù bị vùi dập tàn nhẫn nhưng không vì thế mà khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc của tôi bị tiêu tan. Ngược lại, trong những hoàn cảnh đặc biệt, nó thậm chí còn nổi lên mạnh mẽ và biến thành sự phản kháng táo bạo. Có thể thấy rõ điều đó qua diễn biến tâm lý và hành động của Mị trong đêm cứu A Phủ rồi cùng chàng bỏ trốn khỏi Hồng Ngải:

+ Lúc đầu, trước cảnh A Phủ bị trói, tôi hoàn toàn thờ ơ.

+ Nhưng rồi khi nhìn những giọt nước mắt chảy dài trên gò má sạm đen của A Phủ, ta lại đồng cảm, thương mình và thương người khác.

+ Thương mình, thương người, càng nhận ra tội ác của cha con nhà thống lí.

+ Dù trong lòng vẫn còn nỗi sợ hãi nhưng đã cứu A Phủ và cùng A Phủ bỏ trốn khỏi Hồng Ngải.

Đây là hệ quả tất yếu của những gì đã xảy ra ở My. Từ đêm tình mùa xuân ở Hồng Ngải đến đêm cứu A Phủ là hành trình tìm lại chính mình, giải thoát khỏi “gông cùm” của cả cường quyền bạo tàn và chế độ thần quyền lạc hậu. Đó cũng là lời khẳng định ý nghĩa cuộc sống và khát vọng tự do cháy bỏng của nhân dân lao động Tây Bắc.

4. Nhân vật A Phủ

4.1. Một số phận nghiệt ngã

– Trẻ mồ côi sớm (bố mẹ chết trong trận dịch đậu mùa).

– Nghèo, không lấy được vợ vì lệ làng, phong tục cưới xin khắt khe.

4.2. Một cá tính mạnh mẽ, một hình ảnh đẹp của người lao động núi rừng Tây Bắc

Có ý chí và nghị lực sống, A Phủ đã vượt qua mọi gian khổ để trở thành chàng trai Mông khỏe mạnh, tháo vát, trở thành niềm mơ ước của bao cô gái trong bản.

– Dũng cảm từ nhỏ, ham lao động, A Phủ không ngại công việc nặng nhọc, khó khăn, nguy hiểm.

– Không sợ cường quyền, sẵn sàng trừng trị kẻ xấu.

– Khát vọng sống, yêu tự do, có sức sống tiềm tàng mãnh liệt.

4.3. Một nạn nhân của giai cấp thống trị phong kiến ​​miền núi tàn bạo

– Chỉ vì đánh quan mà bị phạt nặng, bị làng “buôn”, trở thành kiểu “nô bộc” trong nhà thống lý Pá Tra.

– Chỉ vì hổ bắt bò mà bị hai cha con bắt trói, tra tấn dã man mà có thể phải trả giá bằng mạng sống.
Nhân vật A Phủ vừa là bằng chứng sống động về tội ác của giai cấp thống trị ở miền núi Tây Bắc vừa là hình ảnh đẹp đẽ, tiêu biểu của nhân dân lao động ở một vùng núi cao nước ta.

5. Giá trị hiện thực và nhân đạo của tác phẩm

5.1. Giá trị thực

– Truyện miêu tả chân thực số phận nô lệ khốn khổ của người dân lao động nghèo Tây Bắc dưới ách thống trị của bọn phong kiến ​​miền sơn cước (trích Mị, A Phủ).

– Truyện vạch trần bản chất tàn bạo của giai cấp phong kiến ​​thống trị ở miền núi (kể về cha con thống lí Pá Tra).

– Truyện tái hiện sinh động vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên và phong tục tập quán của người dân miền núi Tây Bắc (cảnh mùa xuân, phiên toà A Phủ).

5.2. Giá trị nhân đạo

– Câu chuyện thể hiện tình yêu thương, niềm cảm thông sâu sắc đối với thân phận khốn khó của những người lao động nghèo nơi miền núi (dẫn chứng là các nhân vật Mị, A Phủ).

– Phê phán những thế lực chà đạp con người (cường quyền, thần quyền).

Truyện khẳng định niềm tin vào vẻ đẹp tâm hồn, sức sống mãnh liệt và khát vọng hạnh phúc cháy bỏng của con người. Dù trong hoàn cảnh khắc nghiệt đến đâu, con người cũng không đánh mất khát vọng được sống tự do, hạnh phúc (Dẫn chứng nhân vật Mị trong đêm tình mùa xuân cởi trói cho A Phủ).

– Qua câu chuyện, nhà văn đã chỉ ra cho người dân miền núi Tây Bắc nói riêng những số phận khốn khó nói chung, con đường tự giải thoát khỏi những bất công, con đường làm chủ số phận của mình (x. Xúc động cởi trói cho A Phủ, và cùng A Phủ trốn khỏi Hồng Ngải).

6. Đặc điểm nghệ thuật

một. Nghệ thuật kể chuyện

– Cách giới thiệu nhân vật đầy bất ngờ, tự nhiên và ấn tượng. Cách dẫn dắt tình tiết thông minh khiến mạch truyện phát triển và diễn biến liên tục, thay đổi hấp dẫn mà không bị rối, trùng lặp.

– Ngôn ngữ kể chuyện sinh động, chọn lọc, sáng tạo, phong cách tạo hình phong phú thấm đẫm chất thơ.

b. Nghệ thuật miêu tả tâm lí và phát triển tính cách nhân vật

– Nhà văn ít miêu tả hành động mà chủ yếu miêu tả suy nghĩ, đôi khi chỉ là những ý nghĩ chập chờn trong tiềm thức của nhân vật.

c. Nghệ thuật cảnh độc đáo

– Cảnh thiên nhiên thơ mộng được miêu tả bằng ngôn ngữ thơ mộng và tượng hình (cảnh mùa xuân trên núi Hồng Ngải).

– Cảnh núi rừng với những phong tục, sinh hoạt riêng, sinh động (Cảnh đêm tình mùa xuân, cảnh cúng ma, cảnh kiện tụng).

7. Chủ đề

Tác phẩm đặt ra vấn đề về số phận của con người – những con người dưới đáy xã hội – những con người bị tước đoạt hết tài sản, bóc lột sức lao động và bị xúc phạm nặng nề về nhân phẩm. Giải quyết vấn đề số phận con người, Tô Hoài đã đánh thức họ, đưa họ đến với cách mạng và cho họ một cuộc sống mới.

Sau đây là Tóm tắt Vợ Chồng A Phủ làm Trường ĐH KD & CN Hà Nội Sưu tầm và tổng hợp, mong rằng với nội dung tài liệu tham khảo này sẽ giúp các bạn hoàn thành bài văn của mình một cách tốt nhất!

Đăng bởi: Trường ĐH KD & CN Hà Nội

Chuyên mục: Văn lớp 12, Ngữ văn 12

Bạn thấy bài viết Sơ lược tác phẩm Vợ Chồng A Phủ

(hay nhất) có giải quyết đươc vấn đề bạn tìm hiểu không?, nếu  không hãy comment góp ý thêm về Sơ lược tác phẩm Vợ Chồng A Phủ

(hay nhất) bên dưới để https://hubm.edu.vn/ có thể chỉnh sửa & cải thiện nội dung tốt hơn cho độc giả nhé! Cám ơn bạn đã ghé thăm Website ĐH KD & CN Hà Nội

Nguồn: hubm.edu.vn

#Sơ #lược #tác #phẩm #Vợ #Chồng #Phủ #hay #nhất

Xem thêm bài viết hay:  Bài 5 trang 65 sgk Lịch Sử 10

ĐH KD & CN Hà Nội

Trường Đại học Quản lý và Kinh doanh Hà nội là một trường dân lập, thuộc Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam, được phép thành lập theo Quyết định số 405/TTg, ngày 15/6/1996 của Thủ tướng Chính phủ. Trường chịu sự quản lý Nhà nước của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Hệ thống văn bằng của Trường nằm trong hệ thống văn bằng quốc gia. Ngày 15/09/2006 Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định số 750/QĐ-TTg về việc đổi tên trường thành Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button